Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn từ năm 1965 đến năm 1975" của tác giả Phan Hải Vân (Luận án Tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Mã số: 62 22 03 13; Viện/Trường: Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2019; Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. Nguyễn Văn Khánh và PGS. Trần Ngọc Long) là công trình tiên phong phục dựng toàn diện, có hệ thống quá trình biến đổi cấu trúc kinh tế - xã hội của trung tâm đô thị đầu não miền Nam trong giai đoạn khốc liệt nhất của chiến tranh. Đặt trong bối cảnh lịch sử đặc biệt khi quân viễn chinh Mỹ đổ bộ trực tiếp năm 1965 cho đến ngày sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng hòa (30/4/1975), luận án giải quyết khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi: sự thiếu vắng các công trình liên ngành giải mã mối quan hệ biện chứng giữa viện trợ ngoại sinh, chính sách tài khóa - tiền tệ thời chiến và sự phân hóa giai tầng xã hội ở cấp độ vi mô của một đô thị hạt nhân.

Các câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và giả thuyết (Hypotheses - H) được xác lập nhất quán:

  • RQ1: Các chính sách kinh tế của chính quyền Việt Nam Cộng hòa và viện trợ của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) đã định hình cấu trúc kinh tế Sài Gòn theo quy luật nào qua hai giai đoạn 1965–1968 và 1969–1975?
    • H1: Nền kinh tế Sài Gòn vận hành theo mô hình tiêu dùng phụ thuộc ngoại sinh, phát triển bong bóng phi thực chất dựa trên dòng chảy viện trợ thương mại hóa (Commercial Import Program - CIP) và dịch vụ chiến tranh.
  • RQ2: Tiến trình biến đổi xã hội, phân hóa giai cấp và biến động dân số phản ánh những mâu thuẫn nội tại nào của đô thị hóa thời chiến?
    • H2: Quá trình đô thị hóa tại Sài Gòn không bắt nguồn từ tích lũy công nghiệp tự thân mà là hệ quả của hiện tượng "đô thị hóa cưỡng bức", tạo ra sự đứt gãy cấu trúc xã hội truyền thống và phân hóa giàu nghèo sâu sắc.

Về khung lý thuyết, công trình tích hợp Lý thuyết Hiện đại hóa (Modernization Theory của W. W. Rostow), Lý thuyết Phụ thuộc (Dependency Theory của Fernando Henrique Cardoso và Andre Gunder Frank) cùng Lý thuyết Đô thị hóa Cưỡng bức (Forced-draft Urbanization của Samuel P. Huntington). Phạm vi không gian giới hạn chuẩn xác trong địa giới 11 quận hành chính (từ Quận 1 đến Quận 11) của Đô thành Sài Gòn với diện tích 67,53 km² và quy mô dân số biến động mạnh chạm mốc 1.825.297 người vào năm 1973.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu ghi nhận ba dòng học thuật chính với những đối thoại và tranh luận sâu sắc:

  1. Dòng nghiên cứu kinh tế chính trị miền Nam đương đại (1955–1975): Các chuyên gia kinh tế trong bộ máy chính quyền Sài Gòn như Hồ Thới Sang (1971, 1974), Nguyễn Văn Ngôn (1972), Nguyễn Văn Hảo (1972) và nghiên cứu chung Vũ Quốc Thúc – David Lilienthal (1971) tập trung phân tích các chỉ số lạm phát, giá cả tiêu thụ, chính sách hối đoái và kế hoạch hậu chiến. Nhóm này thừa nhận tính chất bấp bênh của đồng bạc nhưng kỳ vọng vào khả năng tự lực cất cánh nếu duy trì được môi trường tài trợ quốc tế. Ngược lại, nhóm học giả mác-xít như Phan Đắc Lực (1964) chỉ rõ bản chất tư bản lũng đoạn nước ngoài và sự lệ thuộc tất yếu dẫn tới sụp đổ của nền tài chính Sài Gòn.
  2. Dòng nghiên cứu lịch sử kinh tế - xã hội sau năm 1975: Các học giả Việt Nam như Đặng Phong (1991, 2005), Lâm Quang Huyên - Trần Du Lịch (1991), Trần Văn Thọ (2000), Võ Văn Sen (2005) và Nguyễn Đình Lê (2019) đã phân tích sâu sắc các chỉ tiêu thống kê GDP, cơ chế thị trường nhiều thành phần, và sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đô thị. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu tiếp cận quy mô toàn miền Nam hoặc khảo sát diện rộng, chưa bóc tách cụ thể các động thái kinh tế vi mô và chuyển tầng xã hội của riêng Đô thành Sài Gòn.
  3. Dòng học thuật quốc tế: Douglas C. Dacy (1986) trong công trình do Cambridge University Press xuất bản đã lượng hóa tác động của viện trợ Mỹ và so sánh trường hợp Nam Việt Nam với các nền kinh tế thời chiến như Hàn Quốc, Đài Loan, Israel; Robert Warren Stevens (1976) phân tích lạm phát và gánh nặng chi phí chiến tranh của Mỹ; Gabriel Kolko (1986/2003) giải phẫu sự phân rã cấu trúc xã hội đô thị miền Nam; Keith Taylor (2015) ghi nhận hồi ức đa chiều của giới tinh hoa Đệ Nhị Cộng hòa.

Luận án của Phan Hải Vân định vị chính xác tại điểm giao thoa giữa lịch sử đô thị và kinh tế học chính trị, khắc phục triệt để hai khuynh hướng phiến diện trước đây: hoặc chính trị hóa cực đoan phủ nhận sạch trơn các yếu tố kỹ thuật - hạ tầng, hoặc ca ngợi một chiều mô hình tiêu dùng phồn vinh giả tạo mà bỏ qua tính chất dễ tổn thương cốt tử của nền kinh tế tiền đồn.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án kiểm chứng và thách thức trực tiếp luận điểm của W. W. Rostow về giai đoạn "cất cánh" (take-off) khi áp dụng vào các quốc gia đang phát triển tiếp nhận viện trợ ồ ạt trong điều kiện chiến tranh cục bộ. Bằng chứng thực nghiệm từ Sài Gòn chứng minh rằng dòng vốn ngoại sinh không chuyển hóa thành tư bản tích lũy mở rộng sản xuất công nghiệp thực chất mà chủ yếu kích hoạt vòng xoáy tiêu dùng hàng xa xỉ và thương mại trung gian. Công trình củng cố Lý thuyết Phụ thuộc của Cardoso và Frank khi chỉ rõ Sài Gòn đóng vai trò là "vùng ngoại vi lệ thuộc" (dependent periphery), nơi mọi biến động của chính sách cắt giảm viện trợ từ Washington (giai đoạn 1969–1975) lập tức dẫn tới khủng hoảng thanh khoản và sụp đổ chuỗi cung ứng đô thị.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba chiều kích lý thuyết:

  • Lý thuyết Đô thị hóa Cưỡng bức (Huntington): Giải thích cơ chế gia tăng dân số cơ học đột biến từ nông thôn tị nạn chiến tranh tràn vào các xóm lao động Sài Gòn.
  • Lý thuyết Kinh tế Nhà nước Đặc nhượng/Thu lợi địa tô ngoại sinh (Rentier/Aided Economy): Phân tích cơ chế phân bổ giấy phép nhập khẩu, tỉ giá hối đoái ưu đãi và viện trợ hiện vật.
  • Lý thuyết Phân tầng Xã hội Đô thị (Urban Social Stratification): Khảo sát sự định hình của 5 nhóm giai tầng: tư sản mại bản, quan chức - tướng lĩnh tham nhũng, trí thức - tiểu tư sản thành thị, công nhân - lao động nghèo, và tầng lớp thị dân bên lề (lumpenproletariat).

Điều kiện biên (boundary conditions) của mô hình được xác lập trong giới hạn địa lý 11 quận Sài Gòn dưới tác động trực tiếp của cuộc chiến tranh cục bộ quy mô cao độ, có sự can thiệp quy mô lớn của lực lượng quân sự và chuyên gia nước ngoài.

       [ Viện trợ USAID / Chương trình CIP ]

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đứng trên lập trường nhận thức luận của Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử và Chủ nghĩa Hiện thực Phê phán (Critical Realism), kết hợp chặt chẽ giữa phân tích lịch sử cụ thể và quy nạp logic. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (multi-level historical analysis) được triển khai qua việc đối chiếu cấu trúc vĩ mô (chính sách quốc gia, cam kết viện trợ quốc tế) với các hành vi vi mô (hoạt động của nghiệp đoàn, xí nghiệp, xóm lao động nghèo).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình thu thập và thẩm định tư liệu tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tam giác giác hóa nguồn sử liệu (data triangulation):

  • Tài liệu lưu trữ gốc (Primary Archival Records): Khai thác trực tiếp hàng trăm hồ sơ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP. Hồ Chí Minh), bao gồm: Phông Phủ Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa (1954–1963), Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa (1967–1975), Phông Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa, Phông Cơ quan Viện trợ Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Phông Bộ Tài chính, Phông Hội đồng Kinh tế Xã hội và Phông Y tế. Các văn bản quy phạm pháp luật (Sắc dụ, Sắc lệnh bổ nhiệm Đô trưởng, cải tổ hành chính) được đối chiếu trực tiếp với các bản phúc trình an ninh trật tự nội đô.
  • Tài liệu thống kê và công báo: Hệ thống hóa Niên giám Thống kê Việt Nam qua các năm, Công báo Việt Nam Cộng hòa, các tập bản tin của Việt Tấn xã.
  • Báo chí và tập san chuyên ngành đương đại: Khai thác sâu các diễn đàn kinh tế - xã hội như Tạp chí Chấn hưng Kinh tế, Tập san Phòng Thương mại Kỹ nghệ và Kinh tế, Kinh tế Tập san, cùng các ấn phẩm độc lập của giới trí thức: Tạp chí Bách Khoa, Sáng Tạo, Văn hóa Nguyệt san, Giáo dục Nguyệt san, Phát triển Xã hội, Nghiên cứu Hành chánh, Báo Chính luận.
  • Hồi ký chính trị: Sử dụng có phê phán hồi ký của các nhân vật chủ chốt trong chính quyền Sài Gòn (Linh mục Cao Văn Luận, tướng Đỗ Mậu, cựu Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn).

Data và phân tích

Dữ liệu định lượng được xử lý qua phương pháp thống kê mô tả lịch sử, phân tích chuỗi thời gian đối với các chỉ tiêu kinh tế then chốt: sản lượng công nghiệp, dung lượng điện lực, lưu lượng hàng hóa thông quan cảng biển, lượng phương tiện cơ giới, tỷ giá ngoại tệ thị trường chính thức và thị trường tự do, chỉ số giá sinh hoạt thị dân.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Sự hình thành nền kinh tế công nghiệp phụ thuộc và méo mó: Dù số lượng xí nghiệp kỹ nghệ và thương mại tăng từ 31.400 (năm 1957) lên 41.770 (năm 1964), các ngành công nghiệp Sài Gòn chủ yếu tập trung vào chế biến nông sản thực phẩm tiêu dùng nhanh và công nghiệp nhẹ gia công (dệt, bao bì, lắp ráp) phụ thuộc 70–80% vào nguyên liệu và máy móc nhập khẩu từ Mỹ. Điện lực Sài Gòn chiếm vị thế áp đảo khi tiêu thụ 353.000 Kwh trong tổng số 469.000 Kwh toàn miền Nam (năm 1964), tức chiếm xấp xỉ 75,2% tổng sản lượng điện lực toàn miền Nam, phản ánh sự tập trung nguồn lực quá mức vào đô thị phục vụ tiêu dùng chiến tranh.
  2. Sự bùng nổ thương mại ngoại viện và phân hóa thương trường: Số lượng hàng hóa nhập cảng qua Thương cảng Sài Gòn chuyển dịch nhanh chóng từ ảnh hưởng của Pháp sang Hoa Kỳ. Năm 1964, hàng hóa Hoa Kỳ đạt 3.000.000 tấn trong tổng dung lượng thông quan, vượt xa mức 854.000 tấn của Pháp. Thị trường ngoại hối bộc lộ sự bất ổn định sâu sắc: tỷ giá chính thức được duy trì ở mức 35,35 VNĐ/USD (từ 1956 đến 1966), nhưng tỷ giá chợ đen tại thị trường ngoại tệ tự do Sài Gòn đã leo thang phi mã từ 73,50 VNĐ/USD (1961) lên 97,00 VNĐ/USD (1963) và chạm mốc 130,70 VNĐ/USD (1964), báo hiệu sự đổ vỡ của hệ số kiềm chế lạm phát trước khi quân đội Mỹ đổ bộ chính thức.
  3. Phát triển hạ tầng kỹ thuật phục vụ mục tiêu quân sự - logistics chiến lược: Luận án chỉ rõ các đại dự án cơ sở hạ tầng giao thông được đầu tư thần tốc nhằm đáp ứng nhu cầu cơ động quân sự của Mỹ. Tiêu biểu là công trình Xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa (khởi công 1957, hoàn thành 1961) dài 32 km với kinh phí lên tới 35 triệu USD, thiết kế chịu tải tối đa 1.000 phương tiện/giờ với vận tốc 80 km/h; nâng cấp Phi cảng Tân Sơn Nhất năm 1962 với đường băng bê tông kiên cố dài 3.045 m, rộng 45 m, mở rộng diện tích sân bay lên 1.500 ha, đưa lưu lượng vận chuyển đạt 8.162 chuyến bay và 136.030 lượt hành khách vào năm 1964.
  4. Hệ quả của Đô thị hóa Cưỡng bức và phân cực xã hội cực đoan: Chiến tranh tàn phá nông thôn đã đẩy hàng triệu nông dân di tản vào nội đô, biến Sài Gòn thành một "siêu đô thị phình to" (hyper-urbanization). Số lượng phương tiện cá nhân và vận tải hành khách bùng nổ mất kiểm soát: từ 3.482 xích lô đạp (1960) tăng vọt lên 4.439 xích lô máy và 5.473 xích lô đạp (1964), hệ thống xe buýt mở rộng hành trình từ 54 km (774 chuyến năm 1958) lên 107 km (51.350 chuyến năm 1964). Sự gia tăng cơ học này hình thành vành đai các "xóm lao động ổ chuột" nghèo đói ven kênh rạch (Quận 4, Quận 8, Quận 11), tạo nên bức tranh đối lập sâu sắc với lối sống xa hoa của nhóm tư sản mại bản và giới tướng lĩnh cầm quyền.
Chỉ tiêu Kinh tế - Xã hội Sài Gòn Giai đoạn 1956 - 1960 Giai đoạn 1961 - 1964 Xu hướng chuyển biến cốt lõi
Cơ sở kỹ nghệ & thương mại 31.400 xí nghiệp (1957) 41.770 xí nghiệp (1964) Mở rộng quy mô dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp nhẹ
Tỷ trọng điện năng tiêu thụ ~70% toàn miền Nam 353.000 / 469.000 Kwh (1964) Chiếm 75,2% tổng sản lượng điện lực miền Nam
Hàng hóa Hoa Kỳ qua Cảng Sài Gòn Thứ yếu sau Pháp 3.000.000 tấn (1964) Hoa Kỳ chiếm ưu thế tuyệt đối so với Pháp (854.000 tấn)
Tỷ giá thị trường tự do (VNĐ/USD) ~35,35 - 50,00 VNĐ 73,50 (1961) -> 130,70 (1964) Đồng tiền mất giá 77,8%, lạm phát ngầm tích tụ
Lưu lượng Phi cảng Tân Sơn Nhất 65.852 hành khách (1959) 136.030 hành khách (1964) Tăng trưởng 106,5% do nhu cầu không vận chiến tranh

Implications đa chiều

  • Về mặt học thuật: Xác lập một mô hình nghiên cứu lịch sử đô thị toàn diện cho các thành phố thời chiến thuộc thế giới thứ ba, chứng minh rằng tăng trưởng thương mại dựa vào viện trợ không đồng nghĩa với phát triển kinh tế bền vững.
  • Về mặt thực tiễn và chính sách đô thị: Cung cấp bài học kinh nghiệm sâu sắc cho TP. Hồ Chí Minh hiện nay về quy hoạch hạ tầng giao thông kết nối liên vùng, quản trị dòng người di cư nông thôn - đô thị, tái cấu trúc nhà ở ven kênh rạch và bảo đảm tính độc lập, tự chủ của hệ thống tài chính - ngân hàng trước các cú sốc ngoại sinh.

Limitations và Future Research

Tác giả luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:

  • Dữ liệu thống kê thời chiến: Các số liệu lưu trữ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại một số thời điểm nhạy cảm (như giai đoạn tổng tiến công Mậu Thân 1968 hay giai đoạn 1974–1975) có hiện tượng đứt quãng, thiếu đồng bộ hoặc bị tác động bởi mục đích tuyên truyền chính trị.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu khu biệt trong 11 quận của Đô thành Sài Gòn, chưa thể bao quát toàn bộ vùng phụ cận Gia Định, Biên Hòa, Hậu Nghĩa - nơi đặt nhiều khu công nghiệp và căn cứ quân sự liên đới.

Hướng nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):

  1. Ứng dụng phương pháp Lịch sử Kinh tế Số (Cliometrics) và mô hình hóa chuỗi thời gian nhằm lượng hóa chính xác hơn mức độ thất thoát dòng viện trợ CIP vào thị trường chợ đen.
  2. Mở rộng so sánh định lượng (Comparative Urban History) giữa Sài Gòn với Bangkok (Thái Lan) và Seoul (Hàn Quốc) trong cùng thập niên 1960–1970 để làm rõ sự khác biệt trong năng lực chuyển hóa viện trợ quân sự Mỹ thành vốn tích lũy công nghiệp hóa.
  3. Nghiên cứu sâu hơn về tâm lý học xã hội và đời sống thường nhật của giới trí thức, thanh niên và phong trào sinh viên đô thị Sài Gòn thông qua các nguồn tư liệu truyền khẩu (Oral History).

Tác động và ảnh hưởng

Luận án của Phan Hải Vân tạo lập tiếng vang học thuật và giá trị thực tiễn đa chiều:

  • Ảnh hưởng học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực trong giảng dạy Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, Lịch sử Đô thị và Lịch sử Kinh tế tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trọng điểm quốc gia. Cung cấp hệ thống dữ liệu gốc chuẩn xác phục vụ các đề tài nghiên cứu so sánh quốc tế về Chiến tranh Việt Nam.
  • Định hướng hoạch định chính sách: Đem lại góc nhìn lịch sử tham chiếu đắt giá cho Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh và Ban Quản lý Quy hoạch Kiến trúc đô thị trong việc đánh giá di sản hạ tầng giao thông (mạng lưới đường xuyên tâm, hệ thống cảng cạn, cụm cảng hàng không) và giải quyết căn cơ bài toán quá tải dân số cơ học tại khu vực trung tâm lịch sử.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên Lịch sử / Kinh tế: Tiếp cận hệ thống tư liệu lưu trữ sơ cấp quý hiếm tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II đã được phân loại, kiểm chứng phương pháp luận khoa học và trích dẫn chuẩn chỉ.
  • Các nhà nghiên cứu Sử học Đô thị và Đô thị học: Tiếp thu khung lý thuyết tích hợp liên ngành giữa lịch sử, kinh tế học tiền tệ và xã hội học đô thị để khảo sát các không gian đô thị biến động.
  • Các cơ quan Quản lý Quy hoạch và Phát triển Đô thị: Rút ra những bài học thực tiễn về tính toán sức chứa dân số đô thị, xử lý ô nhiễm xóm lao động nghèo và bảo tồn các giá trị kiến trúc di sản thời kỳ 1954–1975.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã kiểm chứng và mở rộng Lý thuyết Phụ thuộc (Dependency Theory) trong không gian đô thị thời chiến, chứng minh rằng viện trợ kinh tế ngoại sinh quy mô lớn không tạo ra tiền đề "cất cánh" công nghiệp mà tạo nên cơ chế kinh tế "ảo", nơi hoạt động nhập khẩu hàng tiêu dùng bóp nghẹt sản xuất nội địa và dẫn tới sự sụp đổ dây chuyền khi nguồn viện trợ bị cắt giảm đột ngột.

2. Điểm đổi mới phương pháp luận khi so sánh với các nghiên cứu trước đây? So với các công trình trước đây của Đặng Phong (2005) hay Douglas C. Dacy (1986), luận án không chỉ phân tích kinh tế vĩ mô đơn tuyến mà tích hợp phương pháp lịch sử đô thị đa tầng: gắn kết tài liệu lưu trữ mật tại TTLTQG II (Phông Phủ Tổng thống Đệ nhị Cộng hòa, Phông USAID) với phân tích định lượng vi mô về giao thông, nhà ở, xí nghiệp và lát cắt xã hội tại từng quận phường cụ thể.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ số liệu thực nghiệm là gì? Phát hiện bất ngờ nằm ở sự chênh lệch khổng lồ giữa tỷ giá thị trường ngoại tệ chính thức và thị trường tự do ngay từ trước năm 1965: tỷ giá chính thức cố định ở mức 35,35 VNĐ/USD trong khi thị trường tự do đã bùng nổ lên 130,70 VNĐ/USD năm 1964. Điều này chứng minh nền tài chính Sài Gòn đã bị đầu cơ lũng đoạn sâu sắc từ trước khi quân đội viễn chinh Mỹ chính thức đổ bộ.

4. Quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) có được đảm bảo không? Hoàn toàn minh bạch và khả thi. Tác giả cung cấp danh mục trích dẫn chính xác mã số hồ sơ, số phông lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (Hồ sơ 2204 Phông Phủ Tổng thống, các hồ sơ USAID, Bộ Tài chính), kèm theo bảng đối chiếu số liệu niên giám thống kê và công báo, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập dễ dàng truy xuất và kiểm chứng.

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới mở ra từ luận án? Luận án mở đường cho việc nghiên cứu liên thông giai đoạn chuyển tiếp 1975–1986: phân tích quá trình tiếp quản, cải tạo và chuyển hóa các cơ sở kỹ nghệ, mạng lưới thương nghiệp tư bản tư nhân của Sài Gòn sang mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, làm sáng tỏ các giá trị hạ tầng và nhân lực kỹ thuật còn được kế thừa sau ngày giải phóng.

Kết luận

Công trình "Chuyển biến kinh tế, xã hội Sài Gòn từ năm 1965 đến năm 1975" của Phan Hải Vân xác lập 5 đóng góp học thuật cốt lõi:

  1. Phục dựng bức tranh toàn cảnh, khách quan, trung thực về diện mạo kinh tế và cấu trúc xã hội Đô thành Sài Gòn trong thập niên khốc liệt nhất của lịch sử hiện đại miền Nam Việt Nam.
  2. Khai thác và giải mật khối lượng đồ sộ tư liệu lưu trữ sơ cấp từ các phông lưu trữ của chính quyền Sài Gòn và cơ quan viện trợ Hoa Kỳ (USAID).
  3. Chứng minh quy luật vận động của nền kinh tế tiêu dùng phụ thuộc vào viện trợ ngoại sinh và giải mã bản chất của quá trình "đô thị hóa cưỡng bức" thời chiến.
  4. Phân tích sâu sắc sự phân hóa 5 giai tầng xã hội, chỉ ra những mâu thuẫn giai cấp sâu sắc ẩn sau vẻ phồn vinh giả tạo của một đô thị tiền đồn.
  5. Đúc kết những bài học lịch sử - thực tiễn sâu sắc cho công tác quy hoạch, quản trị không gian đô thị và hoạch định chính sách kinh tế - xã hội cho TP. Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế.