Luận án tiến sĩ về lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ tại đồng bằng sông Hồng

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ giai đoạn hiện nay, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2021

191
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước

1.3. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

2.1. Khái quát về các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng và xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh ở đồng bằng sông Hồng

2.2. Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ - khái niệm, nội dung, phương thức

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ VÀ CÁC TỈNH UỶ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM

3.1. Thực trạng xây dựng khu vực phòng thủ ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng

3.2. Các tỉnh uỷ ở đồng bằng sông Hồng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ - thực trạng, nguyên nhân và kinh nghiệm

4. CHƯƠNG 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC TỈNH ỦY Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG XÂY DỰNG KHU VỰC PHÒNG THỦ ĐẾN NĂM 2030

4.1. Dự báo những yếu tố tác động và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng trong xây dựng khu vực phòng thủ

4.2. Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng trong xây dựng khu vực phòng thủ của đến năm 2030

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ ở đồng bằng sông Hồng

Khu vực phòng thủ ở đồng bằng sông Hồng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược an ninh quốc gia. Các tỉnh ủy tại đây đã có những nỗ lực đáng kể trong việc xây dựng và củng cố khu vực phòng thủ. Việc lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ không chỉ đảm bảo an ninh mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của các tỉnh ủy trong việc xây dựng khu vực phòng thủ.

1.1. Khái niệm và vai trò của khu vực phòng thủ

Khu vực phòng thủ được hiểu là một hệ thống các biện pháp nhằm bảo vệ an ninh quốc gia. Vai trò của khu vực này không chỉ là bảo vệ lãnh thổ mà còn là bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của địa phương.

1.2. Lịch sử phát triển khu vực phòng thủ ở đồng bằng sông Hồng

Lịch sử xây dựng khu vực phòng thủ ở đồng bằng sông Hồng đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ những năm đầu của cách mạng cho đến hiện tại. Những bài học từ quá khứ sẽ giúp các tỉnh ủy có cái nhìn sâu sắc hơn về việc lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ.

II. Những thách thức trong lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ hiện nay

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng việc lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ ở đồng bằng sông Hồng vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các yếu tố như sự thay đổi trong môi trường an ninh, sự phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội đang đặt ra nhiều áp lực cho các tỉnh ủy.

2.1. Thách thức từ môi trường an ninh khu vực

Môi trường an ninh khu vực đang ngày càng phức tạp với nhiều yếu tố không lường trước được. Các tỉnh ủy cần phải có những chiến lược linh hoạt để ứng phó với những thách thức này.

2.2. Vấn đề phối hợp giữa các lực lượng

Sự phối hợp giữa các lực lượng trong khu vực phòng thủ vẫn còn nhiều hạn chế. Việc thiếu sự đồng bộ trong hoạt động của các lực lượng có thể dẫn đến những lỗ hổng trong công tác phòng thủ.

III. Phương pháp lãnh đạo hiệu quả trong xây dựng khu vực phòng thủ

Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo trong xây dựng khu vực phòng thủ, các tỉnh ủy cần áp dụng những phương pháp lãnh đạo hiện đại. Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn sẽ giúp các tỉnh ủy có những quyết định đúng đắn hơn.

3.1. Đổi mới phương thức lãnh đạo

Đổi mới phương thức lãnh đạo là cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ trong tình hình mới. Các tỉnh ủy cần áp dụng các phương pháp lãnh đạo linh hoạt và sáng tạo.

3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền về vai trò của khu vực phòng thủ cần được đẩy mạnh. Điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức của người dân và các cấp chính quyền về tầm quan trọng của khu vực phòng thủ.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong xây dựng khu vực phòng thủ

Các tỉnh ủy ở đồng bằng sông Hồng đã áp dụng nhiều mô hình và giải pháp trong việc xây dựng khu vực phòng thủ. Những ứng dụng này không chỉ giúp nâng cao khả năng phòng thủ mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

4.1. Mô hình hợp tác quốc tế trong phòng thủ

Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng thủ đã mang lại nhiều lợi ích cho các tỉnh ủy. Việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm từ các quốc gia khác sẽ giúp nâng cao năng lực phòng thủ.

4.2. Kết quả nghiên cứu và thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy rằng việc xây dựng khu vực phòng thủ đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các tỉnh ủy cần tiếp tục phát huy những kết quả này để nâng cao hiệu quả lãnh đạo.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho khu vực phòng thủ

Kết luận từ nghiên cứu cho thấy rằng việc lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ ở đồng bằng sông Hồng cần được tiếp tục củng cố và phát triển. Các tỉnh ủy cần có những chiến lược dài hạn để đảm bảo an ninh quốc gia.

5.1. Định hướng phát triển khu vực phòng thủ đến năm 2030

Định hướng phát triển khu vực phòng thủ đến năm 2030 cần phải được xác định rõ ràng. Các tỉnh ủy cần có kế hoạch cụ thể để thực hiện các mục tiêu này.

5.2. Tăng cường sự lãnh đạo của các tỉnh ủy

Sự lãnh đạo của các tỉnh ủy cần được tăng cường hơn nữa để đáp ứng yêu cầu xây dựng khu vực phòng thủ trong tình hình mới. Việc này sẽ góp phần đảm bảo an ninh quốc gia và phát triển bền vững.

18/07/2025
Luận án tiến sĩ các tỉnh ủy ở đồng bằng sông hồng lãnh đạo xây dựng khu vực phòng thủ giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI 1. Các công trình nghiên cứu về phòng thủ, xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ Sách “Phòng thủ dân sự” do A.An-Tu-Nin (chủ biên), Trần Đăng Vĩnh dịch [1] đã khái quát những vấn đề cơ bản của công tác phòng thủ dân sự, các nguyên tắc tổ chức, trách nhiệm của nhân dân, những quy tắc xử trí trong vùng bị tàn phá vì chiến tranh và thiên tai; sự chuẩn bị về chính trị, tinh thần, tâm lý và cơ sở vật chất của xã hội. Theo tập thể tác giả: Phòng thủ dân sự được đặt nền móng ngay từ những năm đầu của Chính quyền Xô-viết, là một bộ phận của hệ thống các biện pháp phòng thủ chung của toàn quốc được tiến hành cả trong thời bình và thời chiến để bảo vệ nhân dân và nền kinh tế.

Nhiệm vụ quan trọng nhất của phòng thủ dân sự là bảo vệ nhân dân, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ nhân dân có tác dụng quyết định đến toàn bộ kết quả việc giải quyết tất cả các nhiệm vụ khác của phòng thủ dân sự. Nguyên tắc chủ yếu của phòng thủ dân sự là Đảng Cộng sản Liên Xô phải nắm giữ vai trò lãnh đạo trong thực hiện tất cả các biện pháp nhằm bảo vệ Tổ quốc XHCN. Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô thường xuyên quan tâm, xác định những nguyên tắc, phương hướng và các biện pháp tổ chức, hoạt động của phòng thủ dân sự. Sách “Lý luận chiến lược quân sự Trung Quốc” của Học viện Khoa học quân sự Trung Quốc, Trung tâm thông tin Khoa học quân sự dịch [85], trình bày tư tưởng chiến lược phòng ngự tích cực theo văn kiện Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc: “Xây dựng quân đội hùng mạnh và củng cố quốc phòng tương xứng với vị thế quốc tế, phù hợp với an ninh quốc gia và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lợi ích phát triển”, “phải thích ứng với yêu cầu mới của chiến lược an ninh và chiến lược phát triển quốc gia, nghiên cứu thực hiện toàn diện sứ mệnh lịch sử quân đội trong giai đoạn mới, thế kỷ mới, quán triệt phương châm phòng ngự tích cực thời kỳ mới”.

Theo đó, chiến lược phòng ngự tích cực của Trung Quốc là một hệ thống mở, phát triển phù hợp với tình hình chiến lược và thay đổi của nhiệm vụ đấu tranh quân sự, luôn bảo đảm phù hợp với đặc điểm của thời đại và hiệu lực của chiến lược; tập trung vào hai yêu cầu chiến lược đó là ứng phó có hiệu quả mối đe dọa chiến tranh và bảo vệ lợi ích quốc gia, xử lý tốt mối quan hệ giữa ổn định bên trong với phòng vệ bên ngoài, tiến công với phòng ngự; chiến đấu với kiểm soát, chiến tranh với phi chiến tranh. Coi tiến công là loại hình tác chiến quan trọng của phòng ngự tích cực, đặc biệt là coi trọng chiến lược tác chiến tiến công liên hợp quân binh chủng quy mô lớn trên hướng biển. Sách “Deterrence and Defense” (răn đe và phòng thủ) của tác giả Glenn Snyder [153]. Tác giả cho rằng trong các tài liệu về ngoại giao và chiến lược quân sự trước đây, khái niệm “răn đe” và “phòng thủ” là hai khái niệm khác nhau về mục đích và phương thức thực hiện.

Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, hai khái niệm này không còn sự tách bạch mà có sự giao thoa với nhau, lồng trong nhau để đạt được mục đích chính trị của quốc gia thực hiện. Trên cơ sở đó, tác giả đã phân tích một cách có hệ thống giữa hai ý tưởng đồng thời tích hợp chúng trong một khuôn khổ lý thuyết chung và đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện một cách có hiệu quả hai chính sách này trên thực tế phù hợp với môi trường an ninh của thế giới đương đại. Chekinov “Chiến lược quân sự: nhìn về tương lai” Tạp chí Nga “Tư tưởng quân sự” số 11/2016, Đỗ Ngọc Inh dịch [114]. Bài báo nêu rõ: Trong tình hình chiến lược quân sự ngày càng phức tạp hiện nay, khả năng nước Nga bị lôi kéo vào một cuộc xung đột vũ trang lớn hơn bao giờ hết, điều này đòi hỏi phải tìm kiếm những phương hướng mới để vô LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hiệu hóa các mối đe dọa an ninh quân sự đối với nước Nga.

Những vấn đề chủ yếu về các phương diện lý luận và thực hành của chiến lược quân sự là: dự kiến tính chất của các cuộc chiến tranh thời đại hiện nay và phương thức ngăn chặn chúng; mục tiêu và nhiệm vụ của các lực lượng vũ trang trong chiến tranh và những hoạt động quân sự ở quy mô chiến lược; chuẩn bị nền kinh tế, dân cư và lãnh thổ quốc gia sẵn sàng cho chiến tranh; định hướng cần thiết và nội dung của toàn bộ hệ thống chính trị, ngoại giao, kinh tế, thông tin, quân sự, xã hội, luật pháp và những hoạt động phòng thủ khác, nhằm bảo đảm khả năng sẵn sàng và bảo vệ nhà nước trước các cuộc tiến công vũ trang. Theo các tác giả, trong tương lai, những nguyên tắc cơ bản của chiến lược quân sự thể chế hóa công tác chuẩn bị hoạt động quân sự thời bình, sẽ bao gồm: kiềm chế chiến lược, dự báo tình hình chính trị - quân sự và chiến lược; phát hiện nguy cơ chiến tranh; đánh giá toàn diện và chính xác các mối đe dọa về quân sự; điều chỉnh nhằm phối, kết hợp một cách thỏa đáng các mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược với những mục tiêu chính trị của cuộc chiến tranh; chuẩn bị phòng thủ đất nước từ sớm; chủ động xây dựng sớm lực lượng dự bị và các nguồn dự trữ chiến lược. Để chuẩn bị nền kinh tế đất nước phục vụ việc giải quyết các nhiệm vụ phòng thủ, chiến lược quân sự phải đưa ra được đáp án cho những câu hỏi sau: chuẩn bị nền kinh tế sẵn sàng cho cuộc chiến tranh dự kiến theo những phương hướng nào, đảm bảo sức sống và sự ổn định của nó ra sao; nhu cầu của quân đội và hải quân về vũ khí và trang bị kỹ thuật, phương tiện vật chất, quân số cho thời bình và thời chiến, chuyên chở thế nào; bố trí các hạng mục công trình kinh tế như thế nào cho hợp lý hơn, nếu tính tới mức độ an toàn và khả năng bảo vệ chúng nhằm bảo đảm vật chất - kỹ thuật ổn định cho lực lượng vũ trang. Tất cả các luận điểm này đều phản ánh những cách tiếp cận hiện nay với nội dung cốt tử của chiến lược quân sự như một hệ thống tri thức lý luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 và hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực quân sự cần phải được thường xuyên bổ sung và hoàn thiện theo mức độ phát triển của khoa học, kỹ thuật và các mối quan hệ quốc tế, nhằm tiến hành một cách có hiệu quả công tác xây dựng lực lượng vũ trang và củng cố khả năng phòng thủ của đất nước.

Tác giả Từ Khuê “Xây dựng hệ thống lực lượng động viên quốc phòng mang màu sắc Trung Quốc”, Tạp chí Dân Binh Trung Quốc, Số 1/2017, Trung tâm thông tin Khoa học quân sự dịch [93]. Bài báo đánh giá: Trải qua mấy chục năm xây dựng, nền tảng sức mạnh động viên quốc phòng của Trung Quốc đã hùng mạnh, nhưng về tổng thể vẫn chưa thoát ra khỏi phương thức phát triển theo mô hình quy mô số lượng, còn lâu mới đáp ứng được nhu cầu của chiến tranh. Từ đó bài báo đề xuất vấn đề tiếp tục làm tốt cơ cấu, quy mô lực lượng động viên quốc phòng (bao gồm quân dự bị là dân quân và quân dự bị động viên tăng cường cho quân thường trực, ngoài ra còn bao gồm đội ngũ bảo đảm chuyên ngành như: động viên kinh tế quốc dân, phòng không nhân dân, lực lượng giao thông vận tải, bảo đảm vật chất, y tế, cứu hộ…). Về kết cấu, thay đổi việc xây dựng lực lượng kiểu ứng phó trước đây sang xây dựng để bổ sung cho nhau.

Quân dự bị là dân binh chứ không phải là “phiên bản mới” của lực lượng thường trực, phải thực hiện theo nguyên tắc “tác chiến có nhu cầu, địa phương sẽ đáp ứng”. Về hình thức, theo tư duy “thực hiện thuận lợi, đảm bảo thuận lợi, thuận lợi phát triển và gắn với năng lực chiến đấu”, không rập khuôn máy móc, sử dụng linh hoạt nhiều hình thức biên chế như đội ngũ dân quân, quân dự bị, lực lượng chuyên ngành, tổ chức đơn lẻ, sử dụng phương thức biên chế lực lượng động viên đa dạng. Áp dụng cách làm của các nước phát triển, tất yếu phải tăng cường đầu tư kinh phí cho lực lượng động viên dựa theo sức mạnh tổng hợp của đất nước, cải thiện trang bị của lực lượng động viên, xây dựng chính sách ưu đãi… để phát huy tính tích cực của đối tượng động viên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Sách “Defence of Japan 2019” (Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2019) [155], gồm 4 phần chính (1) Môi trường an ninh xung quanh Nhật Bản; (2) Chính sách an ninh, quốc phòng của Nhật Bản; (3) Ba trụ cột của quốc phòng Nhật Bản; (4) Các yếu tố trung tâm cấu thành sức mạnh phòng vệ của Nhật Bản.

Trong đó tiếp tục khẳng định “Đại cương kế hoạch phòng vệ mới” với các ưu tiên nhằm tăng cường năng lực “tác chiến liên hợp”. Xây dựng và tăng cường sức mạnh phòng vệ trong các lĩnh vực mới như vũ trụ, không gian mạng, sóng điện từ; tăng cường tính cơ động, năng lực triển khai phòng vệ vùng biển, vùng trời; tăng cường các yếu tố nòng cốt cấu thành sức mạnh phòng vệ của Nhật Bản như: nền tảng con người, trang thiết bị kỹ thuật phòng vệ, sự phối hợp với địa phương và người dân… 1. Các công trình nghiên cứu về sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với phòng thủ, xây dựng, hoạt động khu vực phòng thủ Giáo trình công tác chính trị Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, do Chương Tư Nghị chủ biên, Nhà xuất bản Đại học Quốc phòng Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc. Người dịch Dương Minh Hào, Dương Thùy Trang [102]; Bài 3, chương 37: Triển khai các hoạt động quân dân cùng giữ gìn, cùng xây dựng, củng cố và tăng cường công tác biên phòng và phòng thủ bờ biển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ