đặt vấn đề về những thách thức đặt ra trong việc thực hiện bình đẳng giới trong các điều kiện mới như biến đổi khí hậu và toàn cầu hóa, cùng với những nghiên cứu ngoài nước, một số nghiên cứu trong nước cũng đã đề cập tới như Naila Kabeer và Trần Thị Vân Anh (2006); Phan Thị Nhiệm (2008), Nguyễn Thị Bích Thúy, Đào Ngọc Nga, Annalise Moser và April Pham (2009). Tuy nhiên, việc xem xét tác động của toàn cầu hóa mới chỉ dừng lại ở các nghiên cứu đơn lẻ trong một số lĩnh vực hẹp như lĩnh vực lao động và việc làm, hay đối tượng cụ thể là phụ nữ dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc của Việt Nam. Về bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam Với khía cạnh tiếp cận các nguồn lực sản xuất, tính tới thời điểm hiện tại ở Việt Nam có rất ít nghiên cứu đề cập tới vấn đề bất bình đẳng giới theo khía cạnh này. Đề cập tới thực trạng tiếp cận các yếu tố nguồn lực, chuỗi báo cáo kết quả điều tra hộ gia đình nông thôn 2002 - 2012 do Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương 12 (CIEM) hợp tác với Trường Đại học Cô-pen-ha-gen, Viện Chính sách và Chiến lược Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (IPSARD) và Viện Khoa học Lao động và Xã hội (ILSSA) thực hiện đã chỉ ra được thực trạng việc tiếp cận các yếu tố nguồn lực sản xuất: nhân lực, vốn vật chất, tài chính và vốn xã hội của các hộ gia đình nông thôn Việt Nam ở góc độ tổng thể, cũng như theo các phân nhóm như nhóm thu nhập, vùng và đặc biệt đề cập đến sự chênh lệch theo giới.
Tuy nhiên ngoài việc đưa ra được kết quả dưới dạng dữ liệu và mô tả tổng quát dữ liệu thực hiện theo thời gian, chuỗi báo cáo kết quả này không cho thấy được các nội dung phân tích thực trạng cũng như định hướng chính sách liên quan đến vấn đề đặt ra cả trên góc độ tổng thể và theo giới. Mới đây nhất có nghiên cứu của nhóm nghiên cứu UNDP (2013) về “Tiếp cận đất đai của phụ nữ trong xã hội Việt Nam hiện nay”, bằng việc sử dụng cách tiếp cận liên ngành, kết hợp với các công cụ nghiên cứu của sử học, nhân học và xã hội học, thông qua điều tra bảng hỏi kết hợp phỏng vấn sâu, nghiên cứu đã chỉ ra rằng hiện nay phụ nữ không tiếp cận đất bình đẳng với nam giới và có 6 rào cản đối với quyền tiếp cận đất đai của phụ nữ gồm có luật hiện hành; thực hành dòng họ; tổ hòa giải; thực hành di chúc và chúc thư; tiếp cận với dịch vụ pháp lý và các thái độ về giới vốn thường ưu tiên nam giới. Mặc dù đưa ra được bức tranh chi tiết về thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ Việt Nam hiện nay dưới góc độ phân tích theo giới tính của chủ hộ, song nghiên cứu này chủ yếu xem xét đất đai dưới góc độ là tài sản của hộ gia đình, do đó trong nghiên cứu chủ yếu phân tích các nội dung tiếp cận liên quan đến đất ở của các hộ. Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu được đưa ra dựa số liệu điều tra với quy mô mẫu nhỏ kết hợp với kết quả phỏng vấn sâu bên cạnh ưu điểm là đưa ra được những phân tích nhận định sâu, cũng gặp phải vấn đề về tính đại diện mang tính phổ quát chung của cả nước (nghiên cứu được tiến hành trên các địa phương sau: Hà Nội (huyện Quốc Oai và Từ Liêm), thành phố Hồ Chí Minh (huyện Hóc Môn và quận Bình Thạnh), và Đà Nẵng (quận Hải Châu và Sơn Trà),Lâm Đồng (huyện Đức Trọng và Lạc Dương), Long An (huyện Cần Đước và thành phố Tân An), Nghệ An (huyện Quỳnh Lưu và Diễn Châu), Ninh Thuận (huyện Ninh Phước và Bác Ái), Quảng Ninh (huyện 13 Hoành Bồ và thành phố Hạ Long), Sơn La (huyện Phù Yên và Bắc Yên), và Trà Vinh (huyện Cầu Kè và Tiểu Cần).
Như vậy, với các nghiên cứu trong nước, có thể thấy rằng dù là nghiên cứu tổng quan hay nghiên cứu chuyên sâu về một khía cạnh trong vấn đề bình đẳng giới, các nghiên cứu này vẫn còn mang tính đơn lẻ và chưa đánh giá được đầy đủ các nội dung của bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời gian vừa qua đặc biệt là ở khía cạnh tiếp cận với các nguồn lực sản xuất, khía cạnh được coi là tồn tại dai dẳng vấn đề bất bình đẳng giới, là giải pháp để nâng cao vị thế kinh tế của phụ nữ trong xã hội. Thêm vào đó, phương pháp nghiên cứu định lượng với các mô hình kinh tế lượng, sử dụng dữ liệu điều tra mang tính đại diện của cả nước được rất ít các nghiên cứu sử dụng, và nếu được sử dụng thì số liệu cũng đã không còn mới nữa. Tóm lại, qua đánh giá tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến vấn đề bình đẳng giới và đặc biệt là bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất sản xuất ở trong và ngoài nước, có thể thấy các nghiên cứu tập trung vào các vấn đề sau: Về hướng nghiên cứu chính: - Đánh giá thực trạng về bình đẳng giới nói chung theo tất cả các khía cạnh trong đó có một nội dung đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận các nguồn lực. - Với các nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới trong tiếp cận đất thì chủ yếu chỉ tập trung đánh giá thực trạng tiếp cận đất dưới góc độ là một tài sản và phần lớn là đề cập tới vấn đề tiếp cận đất đai của phụ nữ trong đó có sự so sánh với nam giới.
Về phương pháp nghiên cứu được sử dụng: Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích định tính (thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu) và phương pháp phân tích thống kê mô tả, hầu như có rất ít nghiên cứu sử dụng mô hình hồi qui kinh tế lượng để phân tích, nếu có cũng chỉ dựa trên số liệu điều tra với giới hạn đối tượng điều tra trong phạm vi nhỏ. Các kết quả nghiên cứu đã đạt được: - Đưa ra được khung lý thuyết phân tích vấn đề bất bình đẳng giới dưới góc độ kinh tế 14 - Đánh giá thực trạng tiếp cận đất đai của phụ nữ theo đó phụ nữ yếu thế hơn nam giới trong tiếp cận đất đai dưới các góc độ quyền/ cơ hội sử dụng đất, nguồn gốc đất và quy mô đất đai nắm giữ - Chỉ ra được các nguyên nhân của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai từ cả phía chính phủ (luật pháp và quá trình thực thi luật pháp…), từ phong tục tập quán, đặc điểm kinh tế hộ gia đình và cả những rào cản trên thị trường. - Đưa ra một số chính sách để nâng cao khả năng tiếp cận đất của phụ nữ Hạn chế và khoảng trống cho nghiên cứu của luận án: - Về phạm vi nghiên cứu: Hầu hết các nghiên cứu về bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai đều là các nghiên cứu ngoài nước do đó bối cảnh chính sách rất khác so với Việt Nam. - Nội dung nghiên cứu: • Các nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu nghiên cứu tiếp cận đất đai của phụ nữ và xem việc tăng cường khả năng tiếp cận đất của phụ nữ là tăng cường bình đẳng giới.
• Đất đai chủ yếu được xem xét dưới góc độ là một tài sản chứ không phải là một nguồn lực sản xuất, do đó các khía cạnh và tiêu chí đánh giá chưa phản ánh được hết nội dung của tiếp cận đất với vai trò là nguồn lực sản xuất trực tiếp. - Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu: • Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu phần lớn dựa trên nguồn số liệu sơ cấp thông qua điều tra mẫu nhỏ không mang tính đại diện cho cả nước. • Chưa có nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng để ước lượng mức độ bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, đồng thời chỉ ra yếu tố ảnh hưởng tới bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai và mối quan hệ tương quan giữa các yếu tố đó. Với những hạn chế trên, luận án: “Bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam” kỳ vọng sẽ lấp được một phần của khoảng trống này trong nghiên cứu.
Mục đích nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 4. Mục đích nghiên cứu Mục tiêu tổng quát của Luận án là: bằng cách tiếp cận mang tính khoa học khía cạnh bình đẳng giới trong việc tiếp cận đất sản xuất, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng đánh giá thực trạng vấn đề này ở Việt Nam hiện nay để từ đó đưa ra định hướng và khuyến nghị chính sách thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực này thời gian tới. Các mục đích nghiên cứu cụ thể bao gồm: (i) Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai, xây dựng khung phân tích bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất (ii) Trên cơ sở khung phân tích, đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là một yếu tố nguồn lực sản xuất ở Việt Nam (iii) Phân tích các nguyên nhân tác động tới hiện trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam (iv) Đề xuất các chính sách nhằm thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất – một trong các nguồn lực sản xuất quan trọng ở Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện mục tiêu tổng quát trên, các câu hỏi nghiên cứu cụ thể của luận án là: (1) Quan điểm thế nào là bình đẳng giới trong tiếp cận đất đai dưới góc độ là một yếu tố nguồn lực sản xuất? (2) Nội dung và các tiêu chí đánh giá bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất là gì? (3) Những yếu tố nào ảnh hưởng tới bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất? (4) Việt Nam hiện nay có bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất hay không? (5) Biểu hiện của vấn đề bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt Nam hiện nay như thế nào? 16 (6) Những nguyên nhân nào gây ra tình trạng bất bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở Việt nam? (7) Những chính sách nào cần hoàn thiện để thực hiện bình đẳng giới trong tiếp cận đất sản xuất ở VN trong thời gian tới? 5.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5.