Luận án tiến sĩ dược học: Thiết lập chất chuẩn từ cây Bảy lá một hoa

Luận án nghiên cứu thiết lập chất chuẩn từ cây bảy lá một hoa - vị thuốc quý trong y học cổ truyền Việt Nam. Kết quả chiết xuất tinh chế có ý nghĩa khoa học và

Trường đại học

Viện Kiểm Nghiệm Thuốc Trung Ương

Chuyên ngành

Dược học

Tác giả

Cao Ngọc Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

538
0
0

Phí lưu trữ

135 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây bảy lá một hoa và chất chuẩn

Cây bảy lá một hoa thuộc chi Paris, có danh pháp khoa học Paris polyphylla var. chinensis Smith. Loài cây này phân bố chủ yếu tại các vùng núi cao phía Bắc Việt Nam. Thân rễ cây chứa hàm lượng lớn saponin steroid, gồm các nhóm spirostanol, furostanol, pseudo-spirostanol và pregnan. Đến nay, giới nghiên cứu đã phân lập được hơn 125 hợp chất saponin từ chi Paris. Các hợp chất này thể hiện nhiều hoạt tính sinh học quý giá. Hoạt tính ức chế tế bào ung thư được ghi nhận rõ rệt nhất. Ngoài ra, cây còn có tác dụng điều hòa miễn dịch, chống oxy hóa, kháng virus và bảo vệ niêm mạc dạ dày. Chất chuẩn là mẫu vật chất có độ tinh khiết cao, dùng làm tham chiếu trong kiểm nghiệm dược phẩm. Việc thiết lập chất chuẩn từ cây bảy lá một hoa có ý nghĩa quan trọng. Nghiên cứu này đảm bảo chất lượng nguồn dược liệu trong nước. Đồng thời giảm sự phụ thuộc vào chất chuẩn nhập khẩu từ nước ngoài.

1.1. Đặc điểm thực vật và phân bố tại Việt Nam

Cây bảy lá một hoa là cây thảo lâu năm, cao từ 30 đến 80 cm. Thân rễ mập, ngắn, màu vàng nhạt, đường kính khoảng 2-4 cm. Lá mọc vòng, thường có 6-8 lá trên một đốt, hình mác rộng. Hoa đơn độc mọc ở đỉnh thân, có màu xanh nhạt hoặc tím. Quả mọng hình cầu, khi chín chuyển màu đỏ sẫm. Tại Việt Nam, cây phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái, Lai Châu. Cây thường mọc dưới tán rừng ẩm ướt, ở độ cao từ 1000 đến 2500 mét. Môi trường sống ưa thích là đất mùn, thoát nước tốt, có bóng râm.

1.2. Thành phần hóa học và các nhóm saponin chính

Saponin steroid là nhóm chất chủ đạo trong cây bảy lá một hoa. Nhóm saponin spirostanol gồm các aglycon như diosgenin, pennogenin, polyphyllin. Nhóm saponin furostanol có cấu trúc vòng E mở, chứa thêm đường glucose tại vị trí C-26. Nhóm pseudo-spirostanol và pregnan được phát hiện sau này. Tổng cộng có hơn 125 hợp chất saponin đã được phân lập từ chi Paris. Ngoài saponin, cây còn chứa flavonoid, axit béo, sterol và polysaccharide. Hàm lượng saponin thay đổi tùy theo bộ phận cây, mùa thu hái và điều kiện sinh trưởng. Thân rễ thường có hàm lượng saponin cao nhất, là bộ phận được sử dụng làm dược liệu chính.

II. Vấn đề thiếu hụt chất chuẩn dược liệu tại Việt Nam

Ngành kiểm nghiệm dược phẩm tại Việt Nam đang đối mặt nhiều thách thức. Nguồn chất chuẩn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu từ các tổ chức quốc tế. Chi phí mua chất chuẩn cao, gây áp lực lên ngân sách phòng thí nghiệm. Thời gian vận chuyển kéo dài, ảnh hưởng đến tiến độ kiểm nghiệm. Một số chất chuẩn từ cây bản địa không có sẵn trên thị trường quốc tế. Cây bảy lá một hoa là dược liệu quý của Việt Nam nhưng chưa có chất chuẩn thương mại. Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá chất lượng dược liệu. Các phương pháp định lượng saponin hiện có sử dụng nhiều loại detector khác nhau. HPLC kết hợp UV, MS, ELSD là các kỹ thuật phổ biến nhất. Tuy nhiên, thiếu chất chuẩn chuẩn hóa khiến kết quả thiếu tính so sánh. Nhu cầu thiết lập chất chuẩn nội địa trở nên cấp thiết. Nghiên cứu chiết xuất và tinh chế chất chuẩn từ cây bảy lá một hoa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

2.1. Thực trạng kiểm nghiệm dược liệu cây bảy lá một hoa

Hiện nay, việc kiểm nghiệm dược liệu cây bảy lá một hoa tại Việt Nam gặp nhiều hạn chế. Các phòng kiểm nghiệm chủ yếu dựa vào phương pháp định tính bằng phản ứng màu. Phương pháp định lượng chính xác bằng HPLC chưa được áp dụng rộng rãi. Nguyên nhân chính là thiếu chất chuẩn tham chiếu phù hợp. Dược liệu trên thị trường có chất lượng không đồng đều. Tình trạng pha trộn, giả mạo dược liệu diễn ra phức tạp. Một số mẫu không đạt tiêu chuẩn về hàm lượng hoạt chất. Việc thiếu hệ thống đánh giá chất lượng thống nhất gây rủi ro cho người sử dụng. Cần có giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu chất lượng cho dược liệu này.

2.2. Thách thức trong phân lập và tinh chế saponin từ chi Paris

Saponin steroid từ chi Paris có cấu trúc phức tạp, phân cực tương đối giống nhau. Điều này gây khó khăn lớn trong quá trình phân lập riêng từng hợp chất. Hỗn hợp chiết xuất thô chứa nhiều tạp chất, cần nhiều bước xử lý sơ bộ. Phương pháp sắc ký cột silica gel thường cho hiệu quả phân tách hạn chế. Saponin có tính chất tạo bọt, ảnh hưởng đến quá trình cô đặc dung dịch. Độ tinh khiết của sản phẩm cuối cùng phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Cần tối ưu hóa hệ dung môi, tốc độ dòng, nhiệt độ trong từng bước. Quy trình tinh chế đòi hỏi sự kết hợp nhiều kỹ thuật sắc ký khác nhau. Chi phí và thời gian thực hiện thường cao hơn so với các nhóm chất khác.

III. Phương pháp chiết xuất và tinh chế chất chuẩn từ cây bảy lá một hoa

Quy trình thiết lập chất chuẩn bao gồm nhiều bước kỹ thuật chuyên sâu. Bước đầu tiên là thu hái và xử lý mẫu dược liệu đúng quy cách. Thân rễ cây bảy lá một hoa được phơi khô, nghiền thành bột thô. Quá trình chiết xuất sử dụng dung môi ethanol hoặc methanol ở nồng độ phù hợp. Chiết xuất lặp lại nhiều lần để thu hồi tối đa hoạt chất saponin. Dịch chiết thô được xử lý qua nhiều bước thanh lọc ban đầu. Phương pháp lỏng-lỏng được áp dụng để loại bỏ tạp chất có độ phân cực khác nhau. Tiếp theo, mẫu được đưa vào hệ thống sắc ký cột để phân tách sơ bộ. Silica gel và Sephadex LH-20 là hai loại chất mang phổ biến. Các phần thu được kiểm tra bằng sắc ký lớp mỏng TLC. Phần chứa hợp chất mục tiêu được tập hợp và tiếp tục tinh chế. Quy trình lặp lại cho đến khi đạt độ tinh khiết yêu cầu trên 95%.

3.1. Kỹ thuật sắc ký sử dụng trong phân lập saponin

Sắc ký cột silica gel là phương pháp chính để phân lập saponin từ chiết xuất thô. Hệ dung môi gradient chloroform-methanol-water được sử dụng phổ biến. Sắc ký gel Sephadex LH-20 giúp tách saponin dựa trên kích thước phân tử. Sắc ký pha đảo chiều HPLC preparative cho phép tinh chế ở quy mô lớn hơn. Bước sóng phát hiện thường đặt ở 203 nm theo các nghiên cứu trước. Phương pháp LC-ESI-MS/MS hỗ trợ định danh chính xác từng hợp chất. Sắc ký HPLC với detector ELSD cũng được áp dụng cho các hợp chất không hấp thụ UV. Sự kết hợp nhiều kỹ thuật sắc ký đảm bảo độ tinh khiết sản phẩm cuối cùng. Quy trình được tối ưu hóa dựa trên đặc tính hóa lý của từng nhóm saponin.

3.2. Xác minh danh tính và đánh giá độ tinh khiết chất chuẩn

Chất chuẩn sau tinh chế cần được xác minh danh tính bằng nhiều phương pháp. Phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR gồm H-NMR và C-NMR cung cấp thông tin cấu trúc. Phổ khối MS xác định khối lượng phân tử chính xác của hợp chất. Phổ hồng ngoại FT-IR cho biết các nhóm chức đặc trưng trong phân tử. Độ tinh khiết được đánh giá bằng sắc ký HPLC với detector UV. Tiêu chuẩn chất chuẩn yêu cầu độ tinh khiết trên 95% theo quy định. Kiểm tra ổn định trong điều kiện bảo quản tiêu chuẩn cũng được thực hiện. Mẫu chất chuẩn được bảo quản ở nhiệt độ âm, tránh ánh sáng. Mỗi lô sản phẩm cần có phiếu phân tích đầy đủ thông số chất lượng.

IV. Ứng dụng và ý nghĩa của chất chuẩn cây bảy lá một hoa

Chất chuẩn được thiết lập từ nghiên cứu này phục vụ nhiều mục đích quan trọng. Trong kiểm nghiệm dược phẩm, chất chuẩn làm tham chiếu đánh giá chất lượng dược liệu. Phòng thí nghiệm sử dụng chất chuẩn để xây dựng phương pháp định lượng chuẩn hóa. Kết quả phân tích trở nên chính xác và có khả năng so sánh giữa các phòng lab. Chất chuẩn cũng hỗ trợ nghiên cứu dược động học trên mô hình động vật. Nghiên cứu đã ứng dụng LC-ESI-MS/MS để theo dõi saponin trong huyết tương chuột. Trong phát triển sản phẩm, chất chuẩn giúp kiểm soát quy trình sản xuất dược phẩm. Các chiết xuất từ cây bảy lá một hoa được nghiên cứu hỗ trợ điều trị ung thư vú. Kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín. Nghiên cứu góp phần khai thác giá trị dược liệu bản địa Việt Nam. Đồng thời, tạo tiền đề xây dựng tiêu chuẩn quốc gia cho dược liệu cây bảy lá một hoa.

4.1. Vai trò chất chuẩn trong kiểm soát chất lượng dược liệu

Chất chuẩn đóng vai trò trung tâm trong hệ thống kiểm soát chất lượng dược liệu. Mỗi phương pháp định lượng đều cần chất chuẩn có độ tinh khiết đạt chuẩn. Chất chuẩn nội địa giúp giảm chi phí và thời gian kiểm nghiệm đáng kể. Các phòng kiểm nghiệm không còn phụ thuộc vào nguồn cung nhập khẩu. Việc xây dựng hệ thống chất chuẩn cho dược liệu bản địa nâng cao năng lực quốc gia. Tiêu chuẩn chất lượng thống nhất giúp quản lý thị trường dược liệu hiệu quả hơn. Người tiêu dùng được bảo vệ tốt hơn trước sản phẩm kém chất lượng. Nghiên cứu này tạo nền tảng cho việc xây dựng dược điển Việt Nam.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong nghiên cứu điều trị ung thư

Cây bảy lá một hoa thể hiện tiềm năng lớn trong nghiên cứu hỗ trợ điều trị ung thư. Hoạt tính ức chế tế bào ung thư vú đã được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu. Saponin steroid tác động qua nhiều cơ chế khác nhau trên tế bào khối u. Chất chuẩn tinh chế giúp đánh giá chính xác hoạt tính của từng hợp chất riêng lẻ. Nghiên cứu dược động học hỗ trợ hiểu rõ quá trình hấp thu và phân bố. Kết quả mở ra hướng phát triển thuốc mới từ nguồn dược liệu trong nước. Các đề tài cấp Bộ Y tế đang tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về lĩnh vực này. Ứng dụng lâm sàng cần thêm nhiều thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án thiết lập một số chất chuẩn được chiết xuất tinh chế từ cây bảy lá một hoa ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong “Chiến lƣợc quốc gia phát triển ngành Dƣợc Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” (đƣợc ban hành theo Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10/01/2014 của Thủ tƣớng Chính phủ) có nêu rõ phát huy thế mạnh, tiềm năng của Việt Nam để phát triển sản xuất thuốc từ dƣợc liệu. Trong chiến lƣợc này, mục tiêu cụ thể đến năm 2020 là phấn đấu sản xuất đƣợc 20% nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thuốc trong nƣớc, thuốc sản xuất trong nƣớc chiếm 80% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong năm, trong đó thuốc từ dƣợc liệu chiếm 30%. Đồng thời, các sản phẩm từ dƣợc liệu (cao chuẩn, bột nguyên liệu, chiết xuất các loại tinh dầu, các hoạt chất tinh khiết) là một trong 5 nhóm sản phẩm chủ lực cũng đƣợc đề cập trong chiến lƣợc này. Dƣợc điển Việt Nam xuất bản lần thứ năm (năm 2017) có 372 chuyên luận về dƣợc liệu và thuốc từ dƣợc liệu, trong đó có 117 chuyên luận dùng chất chuẩn để định tính, định lƣợng thành phần hoạt chất có trong dƣợc liệu và các sản phẩm có chứa nó.

Bên cạnh đó, tiêu chuẩn chất lƣợng của nhiều sản phẩm thuốc có nguồn gốc từ dƣợc liệu chƣa xây dựng đƣợc phƣơng pháp định tính, định lƣợng các thành phần hoạt chất hoặc các chất đánh dấu, mà mới định tính so sánh với dƣợc liệu chuẩn và định lƣợng hỗn hợp toàn phần bằng các phƣơng pháp kém hoặc không đặc hiệu và không định lƣợng đƣợc các hợp chất chính, đặc trƣng, đƣợc coi là các hợp chất có hoạt tính sinh học do thiếu chất chuẩn đối chiếu. Do đó, việc thiết lập chất chuẩn đối chiếu đƣợc chiết xuất từ dƣợc liệu ngày càng trở nên cần thiết đối với công tác đảm bảo chất lƣợng thuốc, từ giai đoạn lựa chọn nguyên liệu đầu vào, đến việc xây dựng tiêu chuẩn chất lƣợng, cũng nhƣ việc kiểm tra, giám sát chất lƣợng thuốc lƣu hành trên thị trƣờng của cơ quan quản lý. Trƣớc yêu cầu ngày càng cao của công tác kiểm tra, giám sát chất lƣợng thuốc, Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ƣơng và Viện Kiểm nghiệm thuốc Thành phố Hồ Chí Minh hàng năm vẫn từng bƣớc thiết lập, mở rộng quỹ chất chuẩn (bao gồm cả dƣợc liệu chuẩn và chất chuẩn đƣợc chiết xuất, phân lập, tinh chế từ dƣợc liệu). Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, cả hai Viện mới thiết lập đƣợc khoảng 200 dƣợc liệu chuẩn và 50 chất chuẩn đƣợc chiết xuất, phân lập từ dƣợc liệu.

Phần lớn những chất chuẩn khác cần thiết cho công tác kiểm tra, giám sát chất lƣợng dƣợc liệu, thuốc từ dƣợc liệu vẫn phải nhập từ nƣớc ngoài với chi phí cao, thời gian cung cấp tƣơng đối lâu và thủ tục nhập khẩu còn phức tạp. -1- Bảy lá một hoa (Paris polyphylla Sm.) là cây thuốc quý và hiếm ở Việt Nam. Với thành phần hóa học chính là saponin, Bảy lá một hoa đã đƣợc chứng minh có các tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thƣ [27],[49],[110], kích thích miễn dịch [83], cầm máu [103], giảm đau, chống viêm [36], chữa rắn độc cắn [1]. Với những tác dụng và công dụng quý nhƣ trên, Dƣợc điển Trung Quốc năm 2015 đã sử dụng 4 chất là chonglou saponin I (polyphyllin D), chonglou saponin II (paris saponin II), chonglou saponin VI (paris saponin VI) và chonglou saponin VII (paris saponin VII) làm 4 chất đánh dấu để kiểm tra chất lƣợng của dƣợc liệu này.

Tổng hàm lƣợng của 4 chất trên không đƣợc ít hơn 0,60% tính theo dƣợc liệu khô kiệt [82]. Ở Việt Nam, Bảy lá một hoa mới chỉ đƣợc dùng trong trong các bài thuốc dân gian mà chƣa đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống và bài bản cũng nhƣ chƣa xây dựng, thiết lập đƣợc các chất đánh dấu, các chất chuẩn để kiểm tra chất lƣợng của dƣợc liệu này và các sản phẩm có chứa nó. Vì vậy việc thiết lập các chất chuẩn đƣợc chiết xuất, phân lập và tinh chế từ cây Bảy lá một hoa là nhiệm vụ cần thiết để góp phần chủ động nguồn cung cấp chất đối chiếu phục vụ nhu cầu kiểm tra chất lƣợng của dƣợc liệu này và những sản phẩm có chứa nó, góp phần mở rộng quỹ chất chuẩn dùng trong ngành Kiểm nghiệm thuốc ở Việt Nam. Xuất phát từ những lý do nêu trên, đề tài “Thiết lập một số chất chuẩn được chiết xuất, tinh chế từ cây Bảy lá một hoa ở Việt Nam” đƣợc thực hiện với các mục tiêu là: 1.

Phân lập và tinh chế một số hợp chất trong các bộ phận của cây Bảy lá một hoa ở Việt Nam đủ tinh khiết để làm nguyên liệu thiết lập chất chuẩn. Xây dựng phương pháp phân tích một số saponin phục vụ cho việc thiết lập các chất chuẩn và khảo sát hàm lượng của các hợp chất nghiên cứu có trong một số mẫu cây Bảy lá một hoa. Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho nguyên liệu và thiết lập chuẩn phòng thí nghiệm cho các nguyên liệu đã phân lập, tinh chế được. -2- Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

CÂY BẢY LÁ MỘT HOA 1. Đặc điểm thực vật và phân bố Bảy lá một hoa còn có các tên gọi khác là thất diệp nhất chi hoa, tảo hƣu, cúa dô (H’Mông). Tên khoa học là Paris polyphylla Sm. thuộc họ Trọng lâu (Trilliaceae), chi Paris [1].

Cây Bảy lá một hoa a) Phần trên mặt đất b,c) Lá và hoa d) Thân rễ Theo hệ thống phân loại của Takhtajan (1987), vị trí phân loại của chi Paris là: Phân giới thực vật bậc cao Ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) -3- Lớp Hành (Liliopsida) Phân lớp Loa kèn (Lilidae) Bộ củ nâu (Dioscoreales) Họ Bảy lá một hoa (Trọng lâu) (Trilliaceae) Chi Bảy lá một hoa, Tảo hƣu (Paris) [2],[6]. Trên thế giới, đến nay ngƣời ta đã biết khoảng 22 loài [7] thuộc chi Paris, phân bố ở vùng nhiệt đới và ôn đới, chủ yếu ở châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Butan, Nepal, Pakistan, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam), châu Âu và châu Mỹ; trong đó có hai loài đƣợc quan tâm nhất là Paris yunnanensis Franch và Paris chinensis Franch [1], [5], [6]. Theo thông tin cập nhật trên trang “The Plant List”, đến năm 2020 đã có 128 loài thuộc chi Paris đã đƣợc chấp nhận tên khoa học. Ở Việt Nam, theo tài liệu tham khảo [5] thì chi Paris có 6 loài gồm: (1) Paris delavayi Franch.

(Trọng lâu kim tiền); (2) Paris polyphylla Sm. (Trọng lâu nhiều lá); (3) Paris hainanensis Merr. (Trọng lâu hải nam); (4) Paris yunnanensis Franch. (Trọng lâu vân nam); (5) Paris chinensis Franch.

(Bảy lá một hoa, Tảo hƣu); (6) Paris fargesii Franch. Gần đây, các nhà nghiên cứu đã bổ sung thêm thành phần loài thuộc chi Paris ở Việt Nam [10] gồm: (7) Paris vietnamensis (Takht.Li; (8) Paris caobangensis Y.Zhou; (9) Paris cronquistii (Takht.Li; (10) Paris xichouensis (H.Zhou; (11) Paris dunniana H. Đặc điểm thực vật Cây thảo nhiều năm, nảy mầm vào mùa xuân, tàn lụi vào mùa đông. Cây cao 40 - 170 cm.

Thân rễ gần hình trụ ngắn, nằm ngang, chia thành nhiều đốt, có những ngấn ngang và sẹo to, đƣờng kính khoảng 2- 8 cm; thân trên mặt đất thẳng đứng, đơn độc không phân nhánh. Lá 5 - 8, xếp thành 1 vòng trên thân; phiến lá mỏng, màu lục, thuôn hình trứng ngƣợc, kích thƣớc 20 - 25  5 - 7 cm ; có 5 - 7 gân chính, xuất phát từ gốc, chóp nhọn, gốc tròn hoặc hình nêm, cuống dài 2,5 - 4 cm. Hoa mọc đơn độc ở đỉnh thân, to, đều, lƣỡng tính; cuống dài 15 - 40 cm, -4- thẳng đứng. Đài 5 - 6, dạng lá, rời nhau, hình mũi giáo, kích thƣớc 5 - 8 × 1,5 - 2,5 cm, màu lục.

Cánh hoa 5 - 6, màu vàng, dạng dải, kích thƣớc 4,5 - 6  0,1 cm, bằng nhau. Nhị 10 - 12, dài 1,5 - 3 cm; chỉ nhị dẹp, dài 0,5 - 1,2 cm, đính ở gốc mảnh bao hoa; bao phấn hình thuôn, đính gốc, 2 ô, mở bằng khe dọc, đỉnh trung đới kéo dài thành hình kim, dài 1 - 3 mm. Bầu thƣợng, hình trứng, 4 - 5 lá noãn, 5 - 6 ô, đính noãn trung trụ, mỗi ô nhiều noãn; vòi nhuỵ 5 - 6, dính nhau phần gốc; đầu nhuỵ 5 - 6. Quả nang, mở ở lƣng ô.

Hạt màu nâu tối, hình cầu hoặc hình bầu dục, nhẵn, vỏ hạt mọng nƣớc hoặc không, có nội nhũ rắn chắc hoặc nạc chứa dầu, mỡ, tinh bột, phôi nhỏ, hình cầu hoặc hình trứng [1],[6],[9]. Phân bố Bảy lá một hoa mọc nơi đất ẩm, nhiều mùn, gần bờ nƣớc, khe suối hay hốc đá, dƣới tán rừng kín thƣờng xanh. Mùa ra hoa tháng 3-7, mùa quả tháng 8-12. Bảy lá một hoa phân bố ở Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang (Phó Bảng), Cao Bằng (Nguyên Bình), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Sơn La (Mộc Châu), Ninh Bình (Cúc Phƣơng), Kon Tum (Kon Plong), Lai Châu (Phong Thổ), Phú Thọ (Thanh Sơn), Hà Tây (Ba Vì), Hoà Bình (Lƣơng Sơn, Mai Châu, Pà Cò).

Ngoài ra, Bảy lá một hoa còn có ở Mianma, Trung Quốc, Lào, Thái Lan [1], [4], [6]. Thành phần hóa học của cây Bảy lá một hoa Nghiên cứu về thành phần hóa học của Bảy lá một hoa cho thấy saponin là thành phần chính, ngoài ra còn có các nhóm chất khác nhƣ anthraquinon, flavonoid, sterol, polyacetylen và một số hợp chất phenolic. Trên thế giới  Các hợp chất saponin Từ năm 1973 đến nay đã có khoảng 150 hợp chất saponin đƣợc phân lập từ cây Bảy lá một hoa. Cấu trúc của các hợp chất này chủ yếu thuộc nhóm saponin steroid khung spirostan (diosgenin, pennogenin), pseudo-spirostan, furostan, pregnan và saponin triterpenoid.

 Các hợp chất saponin steroid - Các hợp chất saponin spirostan: Các saponin nhóm này thƣờng có phần aglycon là diosgenin hoặc pennogenin hoặc là các dạng bị hydroxyl hóa của hai dạng trên ở vị trí C-23, C- 24 hoặc C-27. Các saponin này có từ 1 đến 4 đƣờng và thƣờng liên kết với phần aglycon tại C-3. Một số saponin pennogenin bị hydroxyl hóa tại vị trí C-23, C-24 và C-27 đƣợc phân lập bởi Chen và cộng sự [22],[23],[29] từ loài -5- Paris axialis H.Li và Paris polyphylla var. Theo thống kê đến thời điểm hiện tại có trên 60 hợp chất nhóm này đƣợc phân lập từ chi Paris, ký hiệu từ 1-63 (Hình 1.

Cấu trúc của các saponin spirostan (1-63) phân lập từ chi Paris. - Các saponin furostan: Các saponin furostan (Hình 1.3) có cấu trúc tƣơng tự nhƣ các saponin spirostan nhƣng bị phản ứng bởi enzym mở vòng ở vòng F và bị đƣờng hóa tại C-26. Cấu trúc dạng này lần đầu tiên phân lập từ chi Paris bởi Matsuda và cộng sự năm 2003 [74] là protogracillin. Ngoài ra một số saponin furostan có thể chứa C-20 không no tại khung E.

Cấu trúc của các saponin furostan (64-86) phân lập từ chi Paris - Các saponin pseudo-spirostanol và pregnan: Chen và cộng sự lần đầu tiên phân lập đƣợc hai nhóm saponin pseudo- spirostanol và pregnan từ Paris polyphylla var.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ