chương I- Ky yếu Dự án V)E/94/003. Đô Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực dau tut nước ngoài ở Việt Nam. hệ pháp luật kinh tế” vẫn chưa được giải quyết thoả đáng về mặt lý luận. Tranh chấp kinh tế trong pháp luật thường được gắn với hợp đồng kinh tế.
Vì thế nó đã không đáp ứng được sự đa dạng của các loại tranh chấp trong nền kinh tế thị trường. Bên cạnh đó trong những năm gần đây cùng với khái niệm luật kinh tế (tôn tại như một ngành luật độc lập), trong khoa học pháp lý có đưa ra sử dung các thuật ngữ như luật kinh doanh, luật thương mại. Về bản chất có thể đồng tình với quan niệm của tác giả Phạm Hữu Nghị (trong bài viết: "Về cơ chế giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta trong giai đoạn hiện nay'- tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 12/1999) rằng ranh chấp kinh tế là mâu thuẫn hay xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các nhà đầu tư, các doanh nghiệp với tu cách là chủ thể kinh doanh. Những tranh chấp này phản ánh sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các bên.
Tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài không chỉ đơn thuần là một dang của tranh chấp kinh tế mà còn gắn liên với yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài là vấn đề được đề cập nhiều trong các loại văn bản pháp luật khác nhau của Việt Nam. “Yếu tố nước ngoài” được hiểu theo tinh thần của Điều 826 Bộ luật dân sự (BLDS) Việt Nam không chỉ có yếu tố chủ thể mà còn bao gồm cả yếu tố về sự kiện pháp lý và khách thé của quan hệ dan su’. Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài phải đáp ứng một trong ba yếu tố trên, cụ thể là: là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài, quan hệ phát sinh ở nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
“Yếu tố nước ngoài” trong các quy định của pháp luật kinh tế ở Việt Nam được hiểu ở phạm vi hẹp hơn so với quy định của pháp luật dân sự. F Bình luận khoa học một số vấn đề cơ ban của Bộ Luật Dân sự NXB. Chính trị Quốc gia. Hà Nội 1997, Tr.
Đô Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tr nước ngoài ở Việt Nam. Điều 87 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 về giải quyết các tranh chấp kinh tế có nhân tố nước ngoài mới chỉ đề cập đến yếu tố chủ thể là khi có một hoặc các bên tranh chấp là cá nhân, pháp nhân nước ngoài. Như vậy có thể thấy là phạm vi. tranh chấp có yếu tố nước ngoài của pháp luật kinh tế hẹp hơn pháp luật dân sự.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ngày càng đa dạng phong phú thì sự “hạn hẹp” này là điều sẽ gây cho những người tHực thi pháp luật không ít khó khăn trong việc xác định, phân loại và xét xử tranh chấp. Khắc phục được điểm hạn chế này cũng sẽ góp phần mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các cơ quan tài phán kinh tế Việt Nam góp phần hài hoà hoá pháp luật trong quá trình hội nhập. Trên thực tế khái niệm về tranh chấp đầu tư dường như được mặc nhiên sử dụng trong các văn bản pháp lý và thiết chế quốc tế liên quan đến vấn đề đầu tư. Và người ta chú ý đến việc hoàn thiện cơ chế giải quyết loại tranh chấp này hơn là tìm hiểu khái niệm về nó.
Xu hướng này có lẽ là hợp lý khi các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên phức tạp. Trong bối cảnh quá trình quốc tế hoá ngày càng tăng, những bất đồng đơn lẻ trong một dự án đầu tư, tưởng như không vượt ra ngoài phạm vi quan hệ nội bộ giữa các bên trong dự án có thể trở thành điểm nóng trong quan hệ giữa nước chủ nhà và nước có nhà đầu tư; và theo phản ứng dây chuyền rất dễ trở thành đầu mối cho những xung đột mang tính quốc tế. Từ những năm 1960, nhiều công trình nghiên cứu đã và đang tìm giải đáp, trước hết về mặt nhận thức và học thuật cho vấn đề này. Một số học giả cho rằng, cùng với những cơ hội, lợi ích kinh tế, công nghệ mà tư bản nước ngoài mang đến, dau tư nước ngoài còn là hiện hữu của sự tước đoạt các cơ hội phát triển của một số nhóm người và tổ chức ở nước chủ f} John M.
Rothgeb- Đầu tr nước ngoài ngoài và xung đột chính trị ở các nước dang phát triển.5 nhà không phụ thuộc vào ý nguyện và chính sách đầu tư của Chính phủ nước đó. Có thể nói rằng tranh chấp trong lĩnh vực DTNN, xét theo nghĩa rộng không còn là quan hệ thuần tuý mang tính chat inter partes mà đã trở thành hiện tượng erga omnes.’ Lợi ích kinh tế phải chăng chỉ là một phần trong một loạt các lợi ích liên quan trong các mối quan hệ xã hội phức tạp đa dạng và tế nhị. Việc nhận thức đúng và thoả đáng các tranh chấp đầu tư vì lẽ đó có tầm quan trọng đặc biệt. 7 Cho đến nay chưa thấy có van ban pháp lý quốc tế và công trình nghiên cứu nào dua ra định nghĩa chi tiết về tranh chấp đầu tư nước ngoài.
Chỉ biết rằng DTNN là quá trình chuyển vốn (bao gồm cả công nghệ va các yếu tố khác của sở hữu trí tuệ) và/hoặc nguyên vật liệu từ một nước (nước xuất khẩu vốn) sang một nước khác (nước chủ nhà) nhằm mục đích sản xuất kinh doanh sinh lợi nhuận.” Còn tranh chấp đầu tư theo Điều 25, khoản |, Công ước Oasinhton 1965, là tranh chấp pháp lý "phát sinh trực tiếp từ đầu tư”. Như vậy ngay cả Công ước thành lập Trung tâm quốc tế về giải quyết các tranh chấp đầu tư nước ngoài.ICSID cũng để ngỏ cả khái '! Boswell & Dixon. Đánh giá công trình nghiên cứu: sự bất bình đẳng về kinh tế có phải là lý do dẫn đến các mâu thuần chính trị in trong World Politics (chính tri thế giới) số XLI, tháng 7/1989.431-470 ? Thuật ngữ Latinh inter partes (giữa các bên có liên quan) và erga omnes (lợi ích cộng đồng) là khái niệm hiện dang được dùng phổ biến trong luật quốc tế hiện dai. Quá trình toàn cầu hoá và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dẫn đến hiện tượng một vấn đề phát sinh giữa hai quốc gia hoặc thậm chí giữa một tổ chức của quốc gia này với quốc gia khác cũng có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.
3R_ Bernhardt (biên tập) Từ điển bách khoa Công pháp quốc té Amsterdam: Elsevier,1995,tập IL.435 * Công ước về giải quyết các tranh chấp dâu tt giữa các quốc gia va công dân các quốc gia khác có hiệu lực pháp luật từ 14/10/1966. Tính đến 21/3/2000 có 149 quốc gia đã ký trong dé 131 quốc gia đã phê chuẩn Công ước này. niệm “đầu tư” cũng như khái niệm "tranh chấp đầu tư”. Theo một nhà nghiên cứu thì lý do của việc này là ở chỗ những người soạn thảo Công ước muốn về lâu dài ICSID có thẩm quyền rộng trong việc xét xử các tranh chap.’ Tuy nhiên với những phân tích trên đây theo chúng tôi tạm thời có thể quan niệm rằng: tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài là những mâu thuần, bất đồng phan ánh sự xung đột về lợi ích giữa các bên chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư nước ngoài.
Về bản chất tranh chấp ở đây khác căn bản với vấn đề khiếu nại, tố cáo ngay chính trong đối tượng của nó và trong các phương thức giải quyết. Tranh chấp phản ánh sự mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên chủ thể có quyền lợi bình đẳng với nhau theo sự thoả thuận trong hợp đồng. Tranh chấp là đối tượng điều chỉnh của luật tư và thường được giải quyết thông qua thương lượng hoà giải giữa các bên, hoặc trọng tài, hoặc toà án theo sự thỏa thuận giữa các bên và theo quy định của pháp luật. Còn đối tượng của khiếu nại (theo Điều 2 của Luật khiếu nại, tố cáo được công bố ngày 11/12/1998) là các quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có kha năng trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức.
Đối tượng của tố cáo là hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại hoặc đe doa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước , quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Việc giải quyết khiếu nại (theo quy định của điều 2 Luật khiếu nại, tố cáo) là việc xác minh, kết luận và ra quyết ‘Jean Monnet. Các cơ chế giải quyết tranh chấp kính tế quốc tế.edulprograms!JeanMonnet!papers!97/97-13-Part-3. Đồ Thị Ngọc — Giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tt nước ngoài ở Việt Nam.
định giải quyết của người giải quyết khiếu nại. Giải quyết tố cáo là việc xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét, xác minh, quyết định bằng con đường hành chính và là đối tượng điều chỉnh của luật công.2 Các yếu tô cơ bản của quan hệ tranh chấp trong đầu tư nước ngoài *Các oo, tranh chap trong DTNN Xét theo nghĩa rộng có ba loại tranh chấp trong DTNN, đó là: - Tranh chấp phát sinh giữa nước chủ nhà (NCN) và nước có nhà đầu tư, gọi tắt là nước đầu tư (NĐT); - Tranh chấp giữa nước chủ nhà và nha đầu tư nước ngoài (NĐTNN); và - Tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và cá nhân tổ chức của nước chủ nhà. Tranh chấp giữa nước chủ nhà và nhà đầu tư là tranh chấp thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật công pháp quốc tế, trọng đó các bên tranh chấp (ratione personae) là quốc gia có chủ quyền.
Đối tượng tranh chấp của loại này (ratione materiae), ngoài các vấn đề xuất phát từ quan hệ giữa hai nước được quy định trong Hiệp định bảo hộ đầu tư song phương, còn cả những vấn đề phát sinh từ đầu tư tư nhân. Một số nhà nghiên cứu không cho loại tranh chấp này là hình thức tranh chấp đầu tu.