Nghiên cứu bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật ở nhân viên y tế và can thiệp tại Cần Thơ

Nghiên cứu về tình hình mắc bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật ở nhân viên y tế tại Cần Thơ và đánh giá hiệu quả các biện pháp can thiệp nhằm phòng ngừa và kiểm

Trường đại học

Viện Sức khỏe Nghề nghiệp và Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

195
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật ở nhân viên y tế

Bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật là bệnh lý lây nhiễm xảy ra trong quá trình lao động. Nhân viên y tế thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao. Họ tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể và các vật sắc nhọn nhiễm mầm bệnh hàng ngày. Các loại vi sinh vật nguy hiểm gồm virus viêm gan B, virus viêm gan C, HIV. Quá trình lây truyền xảy ra qua đường máu. Tai nạn kim đâm, vết cắt từ dụng cụ y tế là nguyên nhân chính. Tỷ lệ phơi nhiễm nghề nghiệp tại Việt Nam còn cao. Cần Thơ là thành phố lớn ở đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống y tế tại đây gồm nhiều bệnh viện đa khoa và chuyên khoa. Nghiên cứu thực trạng giúp đánh giá đúng mức độ nguy hiểm. Từ đó xây dựng biện pháp can thiệp phù hợp. Bảo vệ sức khỏe nhân viên y tế là nhiệm vụ quan trọng.

1.1. Khái niệm bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật

Bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật là bệnh lây nhiễm mắc phải trong quá trình làm việc. Nhân viên y tế tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh qua đường máu và dịch cơ thể. Các loại vi sinh vật gây bệnh phổ biến gồm virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV) và HIV. Đường lây truyền chính là qua vết thương do kim đâm, vật sắc nhọn. Máu và dịch cơ thể của bệnh nhân bắn vào niêm mạc cũng là nguy cơ. Bệnh viêm gan B nghề nghiệp được Bộ Y tế công nhận là bệnh nghề nghiệp được bảo hiểm.

1.2. Tình hình nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ

Thành phố Cần Thơ là trung tâm y tế lớn của vùng đồng bằng sông Cửu Long. Hệ thống y tế gồm nhiều bệnh viện đa khoa, chuyên khoa và trung tâm y tế quận huyện. Giai đoạn 2011-2015, có 103 nhân viên y tế bị tai nạn lao động được báo cáo. Trong đó, tổn thương do vật sắc nhọn chiếm 83,5%. Nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn với 64,1%. Điều dưỡng và y sĩ là nhóm bị phơi nhiễm nhiều nhất với 58,3%. Năm 2016 ghi nhận 17 trường hợp phơi nhiễm nghề nghiệp. Kết quả này cho thấy nguy cơ lây nhiễm vẫn ở mức đáng lo ngại.

II. Phân tích thực trạng và nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp

Thực trạng phơi nhiễm nghề nghiệp ở nhân viên y tế Cần Thơ cho thấy nhiều vấn đề cần quan tâm. Tỷ lệ tai nạn do vật sắc nhọn trung bình là 64,8%. Y tá và điều dưỡng có tỷ lệ cao nhất với 19 trường hợp trên 100 người mỗi năm. Bác sĩ đứng thứ hai với 11 trường hợp. Hộ lý và kỹ thuật viên thấp nhất với 9 trường hợp. Đặc điểm tổn thương chủ yếu xảy ra sau khi tiêm chiếm 46%. Tiếp theo là rửa dụng cụ 14,9% và làm thủ thuật 14%. Phẫu thuật chiếm 13,5%. Vứt và thu gom rác thải chiếm 8,8%. Xét nghiệm bệnh nhân gây phơi nhiễm cho thấy 22,3% dương tính với mầm bệnh. Có 26,2% âm tính và 51,5% nghi ngờ nhiễm HIV. Tỷ lệ nhân viên y tế chưa tiêm phòng viêm gan B còn khá cao. Kiến thức về dự phòng lây nhiễm chưa đồng đều giữa các nhóm nghề.

2.1. Tỷ lệ phơi nhiễm theo nhóm nghề

Tỷ lệ phơi nhiễm nghề nghiệp phân hóa rõ rệt giữa các nhóm nhân viên y tế. Y tá và điều dưỡng có nguy cơ cao nhất với 19/100 người mỗi năm. Nhóm này thực hiện nhiều thủ thuật xâm lấn như tiêm truyền, lấy máu xét nghiệm. Bác sĩ có tỷ lệ 11/100 người mỗi năm, chủ yếu do phẫu thuật và thủ thuật. Hộ lý, kỹ thuật viên có tỷ lệ thấp nhất với 9/100 người mỗi năm. Tuy nhiên, nhóm này vẫn đối mặt nguy cơ từ thu gom rác thải y tế và vệ sinh dụng cụ. Nữ giới bị phơi nhiễm nhiều hơn nam giới.

2.2. Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm chính

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm bệnh do vi sinh vật ở nhân viên y tế. Tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh truyền nhiễm tại cơ sở y tế là yếu tố đầu tiên. Việc thực hiện an toàn vệ sinh lao động không đầy đủ làm tăng nguy cơ. Vị trí làm việc quyết định mức độ tiếp xúc với mầm bệnh. Kiến thức và thực hành dự phòng lây nhiễm của nhân viên y tế còn hạn chế. Tần suất tai nạn rủi ro nghề nghiệp cao tại các khoa cấp cứu, phẫu thuật. Sử dụng thiết bị bảo hộ cá nhân chưa đúng cách cũng là yếu tố quan trọng.

III. Biện pháp can thiệp và phòng ngừa lây nhiễm

Biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật. Xử trí sau phơi nhiễm là bước quan trọng đầu tiên. Nhân viên y tế bị kim đâm cần rửa vết thương ngay bằng xà phòng và nước sạch. Xát khuẩn bằng cồn 70 độ hoặc dung dịch iod. Không nặn máu tại vết thương. Báo cáo ngay cho bộ phận phụ trách an toàn lao động. Xét nghiệm đánh giá tình trạng nhiễm bệnh của nguồn lây. Xét nghiệm markers viêm gan B, C và HIV cho nhân viên y tế bị phơi nhiễm. Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo phác đồ của Bộ Y tế. Huấn luyện an toàn vệ sinh lao động là biện pháp can thiệp lâu dài. Nội dung huấn luyện bao gồm nhận diện nguy cơ, kỹ năng phòng hộ và xử trí khi bị phơi nhiễm. Nâng cao kiến thức giúp thay đổi hành vi thực hành của nhân viên y tế. Giáo dục truyền thông về nguy cơ nhiễm bệnh cần được triển khai thường xuyên.

3.1. Xử trí sau phơi nhiễm với vi sinh vật

Xử trí sau phơi nhiễm với virus viêm gan B gồm nhiều bước. Nếu nhân viên y tế chưa tiêm phòng và chưa mắc bệnh, tiêm 1-2 liều HBIG kết hợp 3 mũi vắc xin. Nếu đã tiêm phòng và có kháng thể thì không cần điều trị đặc hiệu. Trường hợp đã tiêm nhưng kháng thể âm tính, cần tiêm HBIG và 1 mũi vắc xin nhắc lại. Theo dõi xét nghiệm anti-HBsAg sau 1-2 tháng. Tư vấn không hiến máu, áp dụng biện pháp phòng lây nhiễm cho người khác. Ổn định tâm lý cho người bị phơi nhiễm là cần thiết.

3.2. Huấn luyện an toàn vệ sinh lao động

Huấn luyện an toàn vệ sinh lao động giúp nâng cao kiến thức phòng ngừa lây nhiễm nghề nghiệp. Tài liệu huấn luyện được xây dựng dựa trên các quy định hiện hành về an toàn lao động trong ngành y tế. Nội dung tập trung vào nhận diện yếu tố nguy cơ và biện pháp phòng tránh. Sau huấn luyện, đánh giá hiệu quả cho thấy nhân viên y tế nắm vững kiến thức hơn. Đây là cơ sở để các cơ sở y tế khác học tập và triển khai. Hoạt động giáo dục truyền thông cần được tổ chức thường xuyên để duy trì nhận thức về nguy cơ nhiễm bệnh.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đã đánh giá toàn diện thực trạng phơi nhiễm nghề nghiệp do vi sinh vật ở nhân viên y tế Cần Thơ. Kết quả cho thấy tỷ lệ tai nạn do vật sắc nhọn còn cao, đặc biệt ở nhóm điều dưỡng. Các yếu tố nguy cơ chính được xác định gồm thiếu kiến thức, thực hành chưa đúng quy trình và thiếu thiết bị bảo hộ. Biện pháp can thiệp bao gồm huấn luyện an toàn vệ sinh lao động và xử trí sau phơi nhiễm cho hiệu quả tích cực. Kiến thức và thực hành của nhân viên y tế được cải thiện đáng kể sau can thiệp. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn. Mô hình can thiệp có thể áp dụng tại các cơ sở y tế khác trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đào tạo liên tục về an toàn lao động cần được đưa vào chương trình thường niên. Đầu tư trang thiết bị bảo hộ cá nhân là yêu cầu cấp thiết. Nghiên cứu góp phần bảo vệ sức khỏe nhân viên y tế, những người đang thực hiện sứ mệnh chăm sóc sức khỏe nhân dân.

4.1. Ý nghĩa của kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về thực trạng phơi nhiễm nghề nghiệp tại Cần Thơ. Dữ liệu giúp các nhà quản lý y tế đánh giá đúng mức độ nguy hiểm. Nghiên cứu xác định rõ nhóm đối tượng có nguy cơ cao cần ưu tiên bảo vệ. Mô hình can thiệp đã chứng minh hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức và thực hành. Đây là cơ sở khoa học để xây dựng chính sách bảo vệ nhân viên y tế. Kết quả cũng là tài liệu tham khảo quý cho các nghiên cứu tương tự tại địa phương khác.

4.2. Khuyến nghị triển khai thực tế

Các cơ sở y tế tại Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long nên áp dụng mô hình can thiệp. Chương trình huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cần được tổ chức định kỳ. Đầu tư đầy đủ thiết bị bảo hộ cá nhân cho nhân viên y tế. Xây dựng quy trình xử trí sau phơi nhiễm rõ ràng và dễ tiếp cận. Tăng cường giám sát và báo cáo tai nạn lao động. Thiết lập hệ thống theo dõi sức khỏe nhân viên y tế thường xuyên. Đưa nội dung phòng chống lây nhiễm vào đào tạo liên tục. Cần có cơ chế hỗ trợ tâm lý cho người bị phơi nhiễm nghề nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án nghiên cứu thực trạng và nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật ở nhân viên y tế tại thành phố cần thơ và đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Nhân viên y tế (NVYT) NVYT là người lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công lập và tư nhân, biên chế và hợp đồng) [12]. An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) ATVSLĐ là các giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố tác hại nghề nghiệp nhằm bảo đảm không gây bệnh, thương tật, làm suy giảm sức khỏe hoặc gây tử vong đối với con người trong quá trình lao động [13]. Yếu tố tác hại nghề nghiệp: Yếu tố tác hại nghề nghiệp là những yếu tố trong quá trình sản xuất và điều kiện lao động có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và khả năng lao động của người lao động gây nên những rối loạn bệnh lý hoặc các bệnh nghề nghiệp đối với những người tiếp xúc.

Tất cả các yếu tố có liên quan đến lao động ở nơi làm việc làm hạn chế khả năng lao động, gây chấn thương hoặc ảnh hưởng không có lợi cho sức khỏe người lao động thậm chí gây tử vong cho người lao động gọi là yếu tố tác hại nghề nghiệp hoặc còn gọi là yếu tố nguy cơ. Có 2 nhóm yếu tố tác hại nghề nghiệp, gồm: 4 - Yếu tố nguy hiểm: là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động. - Yếu tố có hại: là yếu tố gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động [13]. Bệnh nghề nghiệp (BNN): BNN là bệnh phát sinh do điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp tác động tới người lao động.

BNN là những bệnh lý mang đặc trưng của nghề nghiệp hoặc liên quan tới nghề nghiệp. Nguyên nhân của bệnh nghề nghiệp là do tác hại thường xuyên và lâu dài của điều kiện lao động không tốt. Bệnh nghề nghiệp là đối tượng ngăn ngừa của lĩnh vực ATVSLĐ. BNN có thể phòng tránh được bằng các biện pháp: kỹ thuật, y tế, cá nhân, tuyên truyền, tập huấn, quan trắc MTLĐ, … 1.

Bệnh nghề nghiệp do vi sinh vật (VSV): BNN do VSV là bệnh phát sinh do VSV có khả năng đe dọa đến sức khỏe người lao động, đặc biệt là NVYT. Các bệnh thường gặp là HIV/AIDS, viêm gan B, viêm gan C, SARS, lao, sốt xuất huyết, Adeno Virut, Bạch hầu, cúm, Ebola, sởi, rubella, quai bị, tả, lỵ, thương hàn… Trong đó, đáng chú ý nhất là các BNN do VSV lây qua đường máu như viêm gan vi rút B, C và HIV [7], [13]. Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp Bệnh viêm gan B là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm lây qua đường máu do virus hepatitis B (HBV) gây nên. Bệnh viêm gan vi rút B nghề nghiệp là bệnh viêm gan do vi rút viêm gan B gây ra trong quá trình lao động.

NVYT có thể bị nhiễm HBV trong quá trình cung cấp dịch vụ y tế như chăm sóc bệnh nhân, làm các xét nghiệm, phòng chống dịch bệnh. Sau khi xâm nhập vào cơ thể, các vi rút này sẽ gây viêm và tổn thương cho tế bào gan, dẫn tới làm rối loạn các chức năng của gan như tổng hợp chất dinh dưỡng và tiêu hóa thực phẩm, lọc máu và chống nhiễm trùng [1], [14]. Bệnh viêm gan vi rút C nghề nghiệp: Viêm gan vi rút C (HCV) nghề nghiệp là một bệnh nhiễm trùng nghề nghiệp giống như lao, viêm gan B, HIV… Viêm gan C là một bệnh nhiễm trùng do virus xâm nhập vào gan và có thể gây ra bệnh viêm gan cấp tính và mạn tính. Vi rút được lây truyền thông qua việc tiếp xúc với máu hoặc chất dịch của cơ thể người bị bệnh và không qua tiếp xúc thông thường.

Bệnh gây nguy cơ tử vong cao do xơ gan và ung thư gan [1], [15]. Lao động trong các cơ sở y tế và yếu tố nguy cơ nghề nghiệp 1. Lao động trong các cơ sở y tế Người lao động trong ngành y tế là một trong những đối tượng có nguy cơ cao bị BNN và liên quan đến nghề nghiệp do phải tiếp xúc với nhiều yếu tố nguy cơ và điều kiện lao động đặc thù về thời gian và cường độ làm việc. Hiện nay có khoảng 59 triệu NVYT trên toàn thế giới là người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người bệnh, bao gồm các bác sỹ, điều dưỡng, hộ lý, nhân viên phòng thí nghiệm, kỹ thuật viên, nhân viên vệ sinh, hành chính, nhân viên vận chuyển cấp cứu, sửa chữa bảo hành các thiết bị y tế [16].

Ở Việt Nam với số lượng, theo thống kê chung về nhân lực của ngành y tế hiện cả nước có 441.446 NVYT, trong đó số lượng bác sĩ là 73.567 người, số y sỹ là 54.466 người, số điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh là 148. Thành phố Cần Thơ năm 2016 có 134 CSYT bao gồm: 26 bệnh viện, 20 phòng khám đa khoa khu vực, 3 nhà hộ sinh và 85 trạm y tế xã phường; trong đó có 109 CSYT nhà nước và 25 CSYT ngoài nhà nước.531 y tá và 444 hộ sinh; trong số 5.150 giường bệnh, có 4.636 giường bệnh tại các bệnh viện, 50 giường bệnh tại các phòng khám đa khoa khu vực, 13 giường bệnh tại các nhà hộ sinh và 451 giường bệnh tại các trạm y tế xã, phường. Với lực lượng lao động đông đảo trong ngành y tế, công tác ATVSLĐ và chăm sóc sức khỏe nghề nghiệp 6 cho NVYT của nước ta nói chung và của thành phố Cần Thơ nói riêng là hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay [18]. Yếu tố nguy cơ nghề nghiệp trong các cơ sở y tế Ngành y tế là một ngành lao động mang tính đặc thù với cường độ lao động nặng nhọc, căng thẳng tâm sinh lý, điều kiện môi trường lao động phát sinh các yếu tố THNN trong đó có nhiều yếu tố có hại làm ảnh hưởng đến sức khỏe, gây bệnh tật cho NVYT.

Yếu tố có hại trong môi trường lao động của NVYT có thể phân thành 2 nhóm: Các yếu tố nguy cơ không lây nhiễm: - Vật lý, điện từ trường. - Tổ chức lao động. - Tâm sinh lý lao động và Ergônômi. Các yếu tố nguy cơ lây nhiễm VSV: - Tiếp xúc với máu, dịch thể của bệnh nhân, bệnh phẩm, CTYT.

- Tổn thương do VSN, TNLĐ [19], [20]. Yếu tố nguy cơ không lây nhiễm * Tiếp xúc với bức xạ ion hoá Bức xạ ion hóa (phóng xạ) là hiện tượng thay đổi bên trong hạt nhân của một chất làm phát ra các bức xạ liên tục và có các bước sóng khác nhau. Những tia bức xạ này khi chiếu vào vật chất làm ion hóa chúng nên được gọi là bức xạ ion hóa. Nguồn phát sinh phóng xạ trong các CSYT chủ yếu là tại các khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa y học hạt nhân, khoa xét nghiệm,.

sử dụng máy X-quang, CT-scanner, PET-CT scan, các thiết bị và hóa chất xạ trị, các đồng vị phóng xạ. Các nhân viên tiếp xúc tích lũy với các yếu tố phóng xạ liều thấp có thể gây những hủy hoại về mặt sinh học, làm biến đổi gen và nhiễm sắc thể, có thể làm chậm hoặc huỷ hoại phân chia tế bào và can thiệp 7 vào các quá trình chuyển hoá hoặc gây ung thư máu, xương, da và tuyến giáp [5], [21]. * Điện từ trường Nguồn phát sinh điện từ trường trong các cơ sở y tế từ điện lưới cao thế hoặc các máy phát sóng ngắn. Các vị trí lao động chịu ảnh hưởng của điện từ trường thường là nhân viên phụ trách điện và y bác sĩ ở khoa vật lý liệu pháp.

Điện từ trường gây ảnh hưởng đến sức khỏe như say sóng điện từ, bỏng sóng điện từ, điện giật, suy nhược thần kinh, thậm chí tiếp xúc lâu dài với cường độ mạnh với sóng điện từ có thể gây vô sinh. * Tiếp xúc với các hoá chất Các hoá chất phổ biến trong các CSYT là các hoá chất sát trùng và khử khuẩn như: chlorine, iodine, formaldehyde.; Tiếp xúc với một số hoá chất khác như clo, formaldehyde và glutaraldehyde gây viêm da như được phản ánh. Hoá chất sử dụng trong các phòng xét nghiệm sinh hoá, huyết học, tế bào; dược liệu, thuốc các loại sử dụng trong khám chữa bệnh cũng đều có bản chất hoá học như chất gây mê gây tê, các hoá chất chữa ung thư, thuốc an thần, kháng sinh, nhiều loại là độc dược thuộc bảng A [5], [22]. * Yếu tố tổ chức lao động, tâm sinh lý lao động: Hầu hết NVYT làm việc tại các khoa trong bệnh viện đều chịu các yếu tố gây stress trong lao động, đặc biệt là NVYT tại các khoa điều trị tích cực, khoa bỏng, khoa cấp cứu, khoa ngoại, khoa truyền nhiễm, khoa sản v.

Những điều kiện lao động gây stress đối với NVYT là lượng bệnh nhân đến khám chữa bệnh ngày càng nhiều, kèm lượng mẫu xét nghiệm hàng ngày quá lớn gây quá tải bệnh viện. Tiếp xúc với bệnh nhân với nhiều loại bệnh nguy hiểm tiềm ẩn, làm NVYT luôn lo lắng bị lây nhiễm khi tiếp xúc với các nguy cơ rủi ro tai nạn nghề nghiệp. Ngoài ra, NVYT còn luôn phải đề phòng bạo lực từ người nhà bệnh nhân và bệnh nhân do những phản ứng tiêu cực khi gặp tình huống căng thẳng trong quá trình điều trị cũng là yếu tố gây stress 8 trong điều kiện lao động của NVYT. Theo yêu cầu của công việc, hầu hết NVYT, đặc biệt trong các bệnh viện đều phải làm việc theo chế độ ca kíp, làm đêm để đảm bảo chế độ làm việc 24/24 giờ.

NVYT thuộc hệ thống y tế dự phòng cũng phải thường xuyên trực chống dịch, giám sát các vụ dịch bệnh truyền nhiễm trong cộng đồng. Kết hợp giữa sự thiếu ngủ và làm việc vào thời điểm các chức năng của cơ thể bị hạn chế, thần kinh căng thẳng có thể gây mệt mỏi và mất ngủ trầm trọng, khó thực hiện được công việc tốt và tăng nguy cơ xảy ra tai nạn [23], [24]. * Các yếu tố ecgônômi Với tính chất đặc thù, công tác điều trị, cấp cứu, chăm sóc bệnh nhân đòi hỏi NVYT làm việc với nhiều tư thế khác nhau. NVYT khoa ngoại thường xuyên phải làm việc trong tư thế đứng kéo dài khi thực hiện các ca phẫu thuật; bác sĩ nha khoa luôn phải cúi vặn người khi khám và điều trị bệnh nhân; các bác sĩ và điều dưỡng viên luôn phải cúi hoặc vặn người khi tiêm, chăm sóc vết thương trên giường bệnh; các kỹ thuật viên làm việc trong tư thế ngồi kéo dài để làm các xét nghiệm,.

Đây chính là nguyên nhân gây rối loạn cơ xương ở NVYT trong quá trình lao động [23], [25].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ