Luận án TS: Phát triển các Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam - Nguyễn Mạnh Hùng

Bài viết phân tích sâu sắc về thực trạng và tiềm năng phát triển tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam. Khám phá các mô hình, thách thức và giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Tài chính Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

212
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam Vai trò và Tầm quan trọng

Việt Nam, với đặc thù nền kinh tế đang phát triển và tỷ lệ dân số nông thôn cao, đã chứng kiến sự gia tăng vai trò của các Tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM). Các tổ chức này đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy tiếp cận vốn cho các nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt là người nghèo và phụ nữ ở khu vực nông thôn, nơi các dịch vụ ngân hàng truyền thống còn hạn chế. Sự phát triển của TCTCVM không chỉ mang lại cơ hội kinh tế mà còn góp phần vào xóa đói giảm nghèo bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống cộng đồng. Hiểu rõ bối cảnh và tiềm năng của các TCTCVM là tiền đề quan trọng cho việc định hướng phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam một cách toàn diện và hiệu quả.

1.1. Tài chính vi mô là gì Định nghĩa và Mục tiêu cốt lõi

Tài chính vi mô (TCVM) là việc cung cấp các dịch vụ tài chính quy mô nhỏ như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm và dịch vụ thanh toán cho các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp, thường là những người không đủ điều kiện tiếp cận các dịch vụ tài chính từ hệ thống ngân hàng thương mại truyền thống. Mục tiêu chính của TCVM là trao quyền kinh tế, cải thiện sinh kế và giảm thiểu tình trạng nghèo đói bằng cách cung cấp công cụ cần thiết để người dân tự chủ phát triển kinh doanh nhỏ và quản lý tài chính cá nhân. Theo Schreiner (2002) và CGAP (2003), sự bền vững tài chính là nền tảng để các tổ chức TCVM tiếp tục phục vụ khách hàng mục tiêu một cách hiệu quả và lâu dài, khẳng định vai trò không thể thiếu trong hệ sinh thái tài chính quốc gia.

1.2. Bối cảnh Tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam Thực trạng và Tiềm năng

Tại Việt Nam, các Tổ chức tài chính vi mô hoạt động dưới nhiều hình thức, từ các chương trình của các tổ chức phi chính phủ, dự án của chính phủ, đến các tổ chức tài chính vi mô chính thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép. Thực trạng cho thấy nhu cầu tiếp cận vốn của người nghèo và hộ kinh doanh nhỏ là rất lớn, tạo nên tiềm năng phát triển mạnh mẽ cho TCTCVM. Tuy nhiên, các tổ chức này đối mặt với áp lực lớn trong việc cân bằng giữa mục tiêu xã hội và bền vững tài chính. Luận án của Nguyễn Mạnh Hùng (2022) đã thu thập số liệu của 27 TCTCVM tại Việt Nam giai đoạn 2008-2019, bao gồm cả tổ chức chính thức và bán chính thức, cho thấy bức tranh đa dạng về mô hình hoạt động và mức độ hiệu quả.

II. Những Thách thức Phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam Rào cản và Hạn chế

Quá trình phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam đối mặt với nhiều rào cản đáng kể, từ các vấn đề nội tại của tổ chức đến các yếu tố bên ngoài. Những thách thức này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phục vụ khách hàng mục tiêu, đảm bảo bền vững tài chính và mở rộng quy mô hoạt động. Việc nhận diện và phân tích sâu các hạn chế này là bước đầu tiên để đề xuất các giải pháp phù hợp, nhằm nâng cao hiệu quả và tính toàn diện của dịch vụ tài chính vi mô trong bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam.

2.1. Hạn chế trong Tiếp cận vốn và Quản lý Nguồn lực hiệu quả

Một trong những thách thức lớn nhất đối với các Tổ chức tài chính vi mô là khả năng tiếp cận vốn ổn định và đa dạng. Các tổ chức này thường phụ thuộc vào nguồn tài trợ từ các nhà tài trợ quốc tế, vốn vay từ ngân hàng thương mại với lãi suất cao, hoặc vốn tự có hạn chế. Điều này tạo áp lực lớn lên chi phí hoạt động và khả năng cung cấp dịch vụ với mức lãi suất hợp lý cho người nghèo. Bên cạnh đó, việc quản lý nguồn lực hiệu quả, từ nguồn vốn đến nhân sự và công nghệ, cũng là một bài toán khó, đòi hỏi các TCTCVM phải liên tục cải thiện năng lực quản trị để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và giảm thiểu rủi ro.

2.2. Vấn đề Bền vững tài chính và Đảm bảo Hiệu quả hoạt động

Bền vững tài chính là yếu tố sống còn cho sự phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam lâu dài. Tuy nhiên, nhiều TCTCVM gặp khó khăn trong việc đạt được điều này do chi phí hoạt động cao, quy mô khoản vay nhỏ, và khả năng thu hồi nợ thấp từ nhóm khách hàng có thu nhập bấp bênh. Luận án của Nguyễn Mạnh Hùng (2022) nhấn mạnh rằng sự bền vững là nền tảng của sự phát triển (Schreiner 2002; CGAP 2003). Để duy trì hoạt động và mở rộng, các tổ chức cần cân bằng giữa sứ mệnh xã hội và lợi nhuận, đồng thời tối ưu hóa các quy trình để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu chi phí trung bình trên mỗi khách hàng vay.

III. Các Phương pháp Phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô Hiệu quả Mô hình Cho vay và Quản lý

Để vượt qua các thách thức và thúc đẩy phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam, việc áp dụng các mô hình cho vay và phương pháp quản lý hiệu quả là cực kỳ quan trọng. Các mô hình cho vay khác nhau như cho vay theo nhómcho vay cá nhân mang lại những ưu nhược điểm riêng, đòi hỏi các TCTCVM phải linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với đặc điểm khách hàng và điều kiện địa phương. Việc tối ưu hóa các phương pháp này không chỉ cải thiện khả năng tiếp cận vốn cho người nghèo mà còn góp phần vào bền vững tài chính của chính các tổ chức.

3.1. Phân tích mô hình Cho vay theo nhóm Ưu nhược điểm và Thực tiễn

Cho vay theo nhóm là mô hình phổ biến trong tài chính vi mô, tận dụng áp lực xã hội và sự hỗ trợ lẫn nhau trong nhóm để đảm bảo việc trả nợ. Các ví dụ thành công trên thế giới như ngân hàng Grameen ở Bangladesh hay tổ chức ACCION đều áp dụng mô hình này với nhóm nhỏ (5-10 người) hoặc lớn hơn (FINCA với 30-100 thành viên). Tuy nhiên, Ledgerwood (1999) chỉ ra rằng rủi ro của một vài thành viên có thể gây tổn thất cho cả nhóm. Nguyễn Kim Anh (2017) nhận định "Cho vay theo nhóm tỏ ra không hiệu quả do các chi phí thành lập và giám sát nhóm lớn, sự bền vững khó đạt được nếu không dựa trên các yếu tố văn hóa xã hội truyền thống." Điều này cho thấy cần có sự đánh giá cẩn trọng và có thể áp dụng mô hình cho vay gián tiếp qua trung gian.

3.2. Hiệu quả của Cho vay cá nhân và Thẩm định tín dụng

Trong bối cảnh hiện đại, cho vay cá nhân ngày càng được các Tổ chức tài chính vi mô quan tâm, đặc biệt khi quy mô tổ chức và khả năng quản lý rủi ro được cải thiện. Mô hình này yêu cầu TCTCVM cần thẩm định kỹ lưỡng về tư cách khách hàng, mục đích vay vốn, quản lý dòng tiền và tài sản đảm bảo (nếu có). Mặc dù chi phí thẩm định ban đầu có thể cao hơn, mô hình này giúp giảm rủi ro liên đới của cho vay theo nhóm và mang lại tính linh hoạt cao hơn cho khách hàng. Cull, Kunt và Morduch (2007) chỉ ra rằng quy mô khoản vay lớn hơn có chi phí trung bình thấp hơn, nhưng lại ít tiếp cận với người nghèo hơn, đây là một sự đánh đổi cần cân nhắc khi triển khai cho vay cá nhân.

IV. Thương mại hóa Tài chính Vi mô Giải pháp đột phá cho sự Phát triển bền vững

Khái niệm Thương mại hóa tài chính vi mô nổi lên như một hướng đi chiến lược để giải quyết các hạn chế cố hữu của các Tổ chức tài chính vi mô, đặc biệt là vấn đề bền vững tài chính. Phương pháp này tập trung vào việc áp dụng các nguyên tắc kinh doanh và quản lý hiệu quả, tương tự như các tổ chức tài chính truyền thống, nhưng vẫn giữ vững sứ mệnh xã hội là phục vụ người nghèo. Sự chuyển đổi sang mô hình thương mại hóa có thể tạo ra nguồn lực nội tại mạnh mẽ hơn, giảm phụ thuộc vào viện trợ và mở rộng quy mô dịch vụ, góp phần quan trọng vào phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam một cách toàn diện.

4.1. Khái niệm và Lợi ích của Thương mại hóa tài chính vi mô

Thương mại hóa tài chính vi mô đề cập đến quá trình các Tổ chức tài chính vi mô chuyển đổi từ mô hình phụ thuộc vào tài trợ sang mô hình tự chủ về tài chính, hoạt động như một doanh nghiệp xã hội. Điều này bao gồm việc cải thiện hiệu quả hoạt động, tối ưu hóa chi phí, và phát triển các sản phẩm dịch vụ tài chính đa dạng hơn để đáp ứng nhu cầu thị trường. Lợi ích chính là nâng cao bền vững tài chính, cho phép các TCTCVM mở rộng quy mô, phục vụ nhiều người nghèo hơn mà không cần sự hỗ trợ liên tục từ bên ngoài. Nghiên cứu đề xuất thuật ngữ này có thể là giải pháp giảm thiểu hạn chế mà các tổ chức đang đối mặt (Luận án Nguyễn Mạnh Hùng 2022).

4.2. Các yếu tố thúc đẩy Bền vững tài chính cho TCTCVM

Để đạt được bền vững tài chính, các Tổ chức tài chính vi mô cần chú trọng vào một số yếu tố cốt lõi. Thứ nhất là quản lý danh mục vay hiệu quả, bao gồm tỷ lệ nợ xấu thấp và tỷ lệ thu hồi nợ cao. Thứ hai, kiểm soát chi phí hoạt động, đặc biệt là chi phí trung bình trên mỗi khách hàng. Thứ ba, đa dạng hóa nguồn thu nhập thông qua các dịch vụ bổ sung như tiết kiệm, bảo hiểm vi mô. Nghiên cứu của Cull, Kunt và Morduch (2007) chỉ ra rằng lãi suất cao hơn có lợi hơn nhưng chỉ đến một mức tối đa; quy mô khoản vay lớn hơn có chi phí trung bình thấp hơn. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của chiến lược định giá và quản lý rủi ro khôn ngoan để duy trì bền vững tài chính và đảm bảo phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam.

V. Kết quả Nghiên cứu và Hàm ý Chính sách cho Phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô

Phân tích sâu rộng về thực trạng và các yếu tố tác động đến phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam cung cấp những kết quả nghiên cứu giá trị, từ đó đưa ra các hàm ý chính sách quan trọng. Những phát hiện này không chỉ giúp các nhà hoạch định chính sách định hướng các quy định pháp luật mà còn hỗ trợ các Tổ chức tài chính vi mô xây dựng chiến lược hoạt động hiệu quả hơn. Mục tiêu cuối cùng là tối ưu hóa khả năng tiếp cận vốn cho người nghèo và đảm bảo bền vững tài chính cho toàn bộ hệ thống TCVM.

5.1. Phân tích tác động của các biến số đến hiệu quả hoạt động của TCTCVM

Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Hùng (2022) đã phân tích định lượng các yếu tố tác động đến hiệu quả và bền vững tài chính của các Tổ chức tài chính vi mô. Kết quả cho thấy tỷ lệ xóa nợ có tác động tích cực đến ROE, ROA và OSS (Chỉ số bền vững hoạt động), cũng như tỷ lệ lợi nhuận biên. Điều này ngụ ý rằng việc quản lý rủi ro và xóa nợ hợp lý có thể cải thiện hiệu suất. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu tác động tích cực đến ROA và OSS, cho thấy việc tận dụng đòn bẩy tài chính có thể mang lại lợi ích. Cull, Kunt và Morduch (2007) cũng chỉ ra rằng quy mô khoản vay lớn hơn có chi phí trung bình thấp hơn, là một biến số quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả.

5.2. Đề xuất chính sách nhằm tối ưu Tiếp cận vốn và Bền vững cho TCTCVM

Dựa trên các kết quả nghiên cứu, một số hàm ý chính sách được đề xuất để thúc đẩy phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam. Đầu tiên, cần hoàn thiện khung pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sự hình thành và hoạt động của các TCTCVM chính thức, đồng thời khuyến khích thương mại hóa tài chính vi mô. Thứ hai, chính phủ và Ngân hàng Nhà nước nên có các chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn dài hạn, lãi suất ưu đãi cho các TCTCVM. Thứ ba, cần có các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực quản trị rủi ro và công nghệ cho các tổ chức. Việc cân bằng giữa mục tiêu xã hội và bền vững tài chính thông qua các chính sách phù hợp sẽ đảm bảo TCTCVM tiếp tục phục vụ hiệu quả người nghèo.

VI. Tương lai Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam Định hướng và Triển vọng Phát triển

Triển vọng phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam trong tương lai phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các xu hướng toàn cầu và giải quyết các thách thức nội tại. Với sự tiến bộ của công nghệ và sự thay đổi trong hành vi của khách hàng, các Tổ chức tài chính vi mô cần liên tục đổi mới để duy trì sự phù hợp và tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho người nghèo. Định hướng đúng đắn sẽ giúp các TCTCVM không chỉ đạt được bền vững tài chính mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.

6.1. Xu hướng Phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô toàn cầu và Bài học cho Việt Nam

Trên thế giới, tài chính vi mô đang chứng kiến sự dịch chuyển mạnh mẽ sang số hóa (fintech), cá nhân hóa dịch vụ và tăng cường minh bạch. Các Tổ chức tài chính vi mô toàn cầu đang khai thác công nghệ để giảm chi phí giao dịch, mở rộng phạm vi tiếp cận và cải thiện hiệu quả quản lý rủi ro. Việt Nam có thể học hỏi từ các mô hình thành công, đặc biệt trong việc ứng dụng công nghệ để phục vụ tốt hơn người nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Xu hướng thương mại hóa tài chính vi mô cũng là một bài học quan trọng, thúc đẩy các TCTCVM đạt được bền vững tài chính mà vẫn giữ vững sứ mệnh xã hội của mình.

6.2. Cơ hội và Thách thức trong bối cảnh mới cho Tài chính Vi mô Việt Nam

Bối cảnh kinh tế số và hội nhập quốc tế mở ra nhiều cơ hội mới cho phát triển Tổ chức Tài chính Vi mô tại Việt Nam. Công nghệ số giúp các TCTCVM tiếp cận khách hàng dễ dàng hơn, giảm chi phí vận hành và tăng cường khả năng phân tích dữ liệu để đưa ra các quyết định cho vay tốt hơn. Tuy nhiên, đi kèm với cơ hội là thách thức về an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu khách hàng và sự cạnh tranh từ các công ty fintech mới. Việc cân bằng giữa đổi mới công nghệ, duy trì mục tiêu xã hội và đảm bảo bền vững tài chính sẽ là yếu tố then chốt quyết định sự thành công của các Tổ chức tài chính vi mô trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan. 7 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm.

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Tổng quan về tài chính vi mô 2. Lịch sử hình thành tài chính vi mô Tài chính vi mô bắt đầu nhen nhóm tại Châu Âu vào thế kỷ thứ XV, từ những ý tưởng của Giáo hội cho người dân vay nhằm bảo vệ họ, tránh đi vay nặng lãi (Helms 2006).

Tuy nhiên mãi đến năm 1974 thì thuật ngữ tài chính vi mô mới được nhắc đến nhiều, xuất phát từ một giảng viên kinh tế tại Đại học Chittagong, Bangladesh là Muhammad Yunus đã cho một nhóm dân làng nghèo khó vay 27 đô la. Ba mươi năm sau, ông đoạt giải Nobel hòa bình và tài chính vi mô trở thành ý tưởng phát triển ưa chuộng trên thế giới. Tài chính vi mô đã đạt được những thành tựu đáng kinh ngạc trong việc thúc đẩy khả năng phục hồi tài chính bên cạnh việc đạt được các mục tiêu xã hội khác - tiếp cận những người yếu thế thu nhập thấp, trao quyền cho phụ nữ và phát triển năng lực của những người có nhu cầu tài chính nhỏ. Năm 1983, Muhammud Yunus thành lập Ngân hàng Grameen cho những khoản vay rất nhỏ đến mức 15 bảng Anh một lần cho những người nghèo và không có uy tín.

Kể từ đó tổ chức đã cho hơn 6 triệu người rất nghèo ở Bangladesh và trên khắp tiểu lục địa châu Á vay khoảng 3 tỷ bảng Anh, nhưng ngân hàng vẫn duy trì nguồn vốn hoàn toàn là nguồn tài trợ. Hiện tổ chức này đang thử nghiệm một phương pháp tiếp cận toàn diện dịch vụ chăm sóc y tế cơ bản và cung cấp chương trình giáo dục dành cho người trưởng thành. Tài chính vi mô hiện đang được áp dụng rộng rãi ở Châu Phi, một trong số những đơn vị tiên phong là Care International UK, đối tác của Barclays trong việc phát triển các dịch vụ tài chính cho dự án Katine. Năm 2005, Liên hợp quốc gọi tên là năm dành riêng cho tài chính vi mô, các tổ chức nhấn mạnh vào việc giúp đỡ người nghèo tiết kiệm và bắt đầu đặt ra một số nghi ngờ về hiệu quả của tín dụng vi mô theo nhóm.

Năm 2008, các nhà đầu tư vi mô tham gia vào Kiva.or và MicroPlace.org mở ra dịch vụ cho phép các cá nhân đầu tư vào các khoản vay nhỏ và những người có nhu cầu tài chính vi mô trực tuyến, thể hiện xu hướng số hóa dịch vụ tài chính vi mô. 9 Tài chính vi mô không chỉ thúc đẩy khả năng phục hồi tài chính mà còn đạt được các mục tiêu xã hội khác như bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ và phát triển năng lực của các nhóm nhỏ để kiểm soát cuộc sống của chính họ. Tuy nhiên sự thành công của tài chính vi mô đang bị giám sát ngày càng nhiều từ các nhà tài trợ và Chính phủ. Khái niệm tài chính vi mô Theo nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo CGAP (2012) cho rằng: “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm vi mô và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chế thích hợp, giúp các đối tượng này có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp tăng thêm thu nhập cải thiện chất lượng cuộc sống”.

Bên cạnh đó Ngân hàng Phát triển Châu Á - ADB (2000) nhận định rằng: “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính tiền gửi, cho vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ”. Ledgerwood (1999) có nhận định ngắn gọn hơn về tổ chức TCVM đó là: “TCVM là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp”. Tại Việt Nam, theo Nghị định 28/2005/NĐ-CP thì: “Tài chính quy mô nhỏ là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo”. Tóm lại có rất nhiều khái niệm về TCVM và tựu chung lại, TCVM được hiểu là hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính quy mô nhỏ như tín dụng, tiền gửi, bảo hiểm vi mô cho các đối tượng thu nhập thấp trong xã hội, những doanh nghiệp siêu nhỏ, những đối tượng khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức.

Qua đó giúp hỗ trợ thúc đẩy phát triển kinh tế, an sinh xã hội và hoàn thiện mảnh ghép về tài chính toàn diện. Tổng quan về tổ chức tài chính vi mô 2. Khái niệm về tổ chức tài chính vi mô Theo ADB (2012) nhận định: “Tổ chức TCVM là một dạng doanh nghiệp xã hội với mục tiêu cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”. Bên cạnh đó Ledgerwood (2006) cho rằng: “Tổ chức TCVM được coi là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho cư dân thu nhập thấp và nhóm 10 người yếu thế, cùng với trung gian tài chính, một số TCTCVM cung cấp cả dịch vụ trung gian xã hội như đào tạo kiến thức, hỗ trợ khả năng quản lý tài chính.

Tại Việt Nam, theo Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 thì: “Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”. Như vậy, định nghĩa một cách đơn giản, TCTCVM là các tổ chức mà hoạt động chính là TCVM, cung ứng dịch vụ tài chính quy mô nhỏ cho các khách hàng thu nhập thấp và các doanh nghiệp siêu nhỏ. Thông qua việc tiến hành các hoạt động TCVM, các tổ chức này có được nguồn thu nhập để tồn tại, phát triển và thực hiện được vai trò an sinh xã hội của mình. TCTCVM thuộc dạng doanh nghiệp xã hội nhưng có nguồn thu để tự trang trải, hướng tới phát triển bền vững chứ không hoàn toàn mang tính chất phi lợi nhuận.

Do đó TCTCVM hoạt động bao gồm cả hai yếu tố là: trung gian tài chính và trung gian xã hội. Đặc điểm của các tổ chức tài chính vi mô Thứ nhất, hoạt động vì trách nhiệm xã hội bên cạnh mục tiêu lợi nhuận Đối tượng của các TCTCVM cung ứng dịch vụ tài chính là những người có thu nhập thấp, những doanh nghiệp siêu nhỏ, khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức. Qua đó các TCTCVM hỗ trợ các dịch vụ nhằm giúp họ quản lý tài chính tốt hơn, cung ứng vốn và kiến thức để vượt qua giai đoạn khó khăn, xóa đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế. Trách nhiệm xã hội của các TCTCVM là rất rõ ràng.

Các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng thực hiện nghĩa vụ đối với xã hội như gây quỹ từ thiện, tài trợ ủng hộ các chương trình vì người nghèo, thực hiện các chiến dịch bảo vệ môi trường nhưng các hoạt động này không phải là lĩnh vực chú trọng vì mục tiêu tôn chỉ của các NHTM là lợi nhuận (Ledgerwood 1999). Như vậy các TCTCVM là các doanh nghiệp xã hội nhưng không phải họ hoạt động phi lợi nhuận, họ vẫn có mục tiêu lợi nhuận và tăng trưởng, nhưng mục tiêu này đồng hành với mục tiêu xã hội. Một câu hỏi đặt ra liệu rằng các TCTCVM cung ứng dịch vụ cho người thu nhập thấp thì họ có khả năng sinh lời hay không. Thực tế là các tổ chức này hoàn toàn có mức sinh lời tốt và tăng trưởng trên toàn thế giới.

Bởi lẽ đặc thù của ngành TCVM cho phép họ đặt ra mức lãi suất và phí cao hơn các tổ chức tài chính truyền thống để họ có thể bù đắp các chi phí dự phòng rủi ro và sinh lời (Ledgerwood 1999). 11 Thứ hai, TCTCVM cung cấp dịch vụ phi tài chính bên cạnh dịch vụ tài chính Đối tượng khách hàng của các TCTCVM đặc thù là những đối tượng đa phần có sự hạn chế về các kiến thức như các kiến thức cơ bản về tài chính, cách thức quản lý tài chính cá nhân, các kiến thức về chăm sóc sức khỏe, hay các kiến thức về kỹ năng và kỹ thuật trong việc sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi… Do đó các TCTCVM cũng hỗ trợ khách hàng trong việc đào tạo, chia sẻ kiến thức, kỹ năng, cung ứng các dịch vụ phi tài chính. Điều này phát sinh thêm chi phí hoạt động và đây cũng là một lý do giải thích vì sao các TCTCVM cần đưa ra mức phí và lãi suất cao hơn so với các tổ chức tài chính thông thường (Ledgerwood 1999). Trên thế giới cũng đã có nhiều TCTCVM triển khai mô hình cung ứng dịch vụ phi tài chính bên cạnh dịch vụ tài chính và thành công như Crecer tại Bolivia, Finca tại Peru… 2.

Phân loại nhóm các tổ chức tài chính vi mô Theo Leggerwood (1999) phân loại các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM trên thế giới thành ba khu vực như sau: - Khu vực chính thức: đa phần là các ngân hàng thương mại chính thức có hoạt động thêm lĩnh vực tài chính vi mô hoặc các trung gian tài chính và các TCTCVM đã được cấp phép hoạt động và có cơ quan quản lý giám sát. - Khu vực bán chính thức là các tổ chức được chính quyền sở tại công nhận là các pháp nhân hoạt động như một trung gian tài chính. Khu vực này thường xuất phát từ các tổ chức phi chính phủ, các hợp tác xã, các hiệp hội mở rộng giúp đỡ các thành viên. - Khu vực phi chính thức là các tổ chức ít chịu sự chi phối về mặt luật pháp của chính quyền sở tại một cách rõ ràng.

Khu vực này chủ yếu là tư nhân tự phát và chưa có sự tổ chức hay được quản lý rõ ràng ví dụ như người cho vay tiền, các hội nhóm chơi hụi, họ tự phát.1: Các tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM Khu vực chính thức Khu vực bán chính thức Khu vực phi chính thức - Ngân hàng phát triển công. - Các công đoàn tín dụng. - Người cho vay tiền. - Ngân hàng phát triển tư nhân.

- Hợp tác xã đa mục đích - Thương mại, chủ đất và gần - Ngân hàng tiết kiệm bưu NGO. giống người cho vay. - (một vài) Nhóm tự lực.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ