Luận án TS: Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường ĐH Bộ Công Thương

Tài liệu Chất lượng giảng viên đh thuộc bộ công thương tổng hợp lý thuyết và thực hành, phục vụ học tập ngành giai đoạn 2020-2025

Trường đại học

Học viện Chính trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2021

201
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng giảng viên ĐH thuộc Bộ Công Thương

Chất lượng đội ngũ giảng viên là yếu tố then chốt, quyết định trực tiếp đến uy tín và hiệu quả đào tạo của các cơ sở giáo dục đại học. Đối với các trường đại học thuộc Bộ Công Thương, việc xây dựng một đội ngũ giảng viên vững mạnh không chỉ là nhiệm vụ nội tại mà còn mang ý nghĩa chiến lược, cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luận án của tác giả Lê Thị Hồng Hạnh (2021) đã cung cấp một cơ sở lý luận vững chắc về các khía cạnh cấu thành nên chất lượng giảng viên, từ phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn đến năng lực thực tiễn, làm nền tảng cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp cải tiến.

1.1. Khái niệm cốt lõi về đội ngũ giảng viên đại học

Theo Luật Giáo dục đại học, giảng viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại cơ sở giáo dục đại học, có nhân thân rõ ràng, phẩm chất đạo đức tốt và trình độ chuyên môn đạt chuẩn. Đội ngũ giảng viên được hiểu là tập thể các nhà giáo được tổ chức thành một lực lượng thống nhất, cùng thực hiện mục tiêu giáo dục chung. Tại các trường đại học công nghiệp thuộc Bộ Công Thương, đội ngũ này có đặc thù riêng: thiên hướng chuyên môn sâu về khoa học - kỹ thuật - công nghệ, gắn liền hoạt động giảng dạy với thực tiễn tại nhà máy, công xưởng. Họ không chỉ truyền đạt tri thức mà còn là lực lượng nòng cốt trong việc phát triển đội ngũ giảng viên kế cận và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên.

1.2. Các tiêu chí đánh giá giảng viên đại học hiện nay

Việc đánh giá chất lượng giảng viên cần dựa trên một hệ thống tiêu chí toàn diện và khách quan. Các tiêu chí đánh giá giảng viên đại học không chỉ dừng lại ở học vị (Thạc sĩ, Tiến sĩ) hay chức danh khoa học (Phó Giáo sư, Giáo sư) mà còn bao gồm ba trụ cột chính: Thể lực, Trí lực và Tâm lực. Thể lực là sức khỏe thể chất và tinh thần để hoàn thành nhiệm vụ. Trí lực bao gồm trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, trình độ ngoại ngữ, tin học và đặc biệt là năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên. Tâm lực thể hiện qua phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, lối sống và tác phong chuẩn mực. Hệ thống chuẩn nghề nghiệp giảng viên cần được xây dựng dựa trên các yếu tố này để đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả.

II. Phân tích thực trạng chất lượng giảng viên hiện nay

Việc nhìn nhận đúng đắn thực trạng là bước đi tiên quyết để có những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Luận án đã tiến hành khảo sát và phân tích sâu sắc tại các trường đại học trọng điểm thuộc Bộ Công Thương như Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học Điện lực. Kết quả cho thấy bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, thực trạng chất lượng giảng viên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế và thách thức cần được khắc phục kịp thời. Đây là vấn đề có ý nghĩa “sống còn” đối với sự phát triển bền vững của các nhà trường.

2.1. Ưu điểm và thành tựu trong phát triển đội ngũ giảng viên

Trong những năm qua, công tác phát triển đội ngũ giảng viên tại các trường thuộc Bộ Công Thương đã đạt được những kết quả tích cực. Số lượng giảng viên có trình độ sau đại học tăng lên đáng kể, cơ cấu độ tuổi dần được trẻ hóa, tạo ra một đội ngũ năng động, nhiệt huyết và có khả năng tiếp cận nhanh với công nghệ mới. Nhiều giảng viên đã tích cực tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước, góp phần nâng cao uy tín học thuật. Các chính sách thu hút, bồi dưỡng và đãi ngộ đã bước đầu phát huy hiệu quả, tạo động lực cho giảng viên cống hiến và gắn bó lâu dài với nhà trường.

2.2. Hạn chế về năng lực giảng viên và cơ cấu còn bất cập

Bên cạnh ưu điểm, năng lực giảng viên vẫn chưa thực sự đồng đều. Một bộ phận giảng viên còn hạn chế về ngoại ngữ, kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin và đặc biệt là năng lực nghiên cứu khoa học. Theo tác giả Lê Thị Hồng Hạnh, “tình trạng thiếu vắng dần những giảng viên ‘kỳ cựu’, xuất sắc, có bản lĩnh về nghiệp vụ sư phạm vững vàng” đang tạo ra khoảng trống thế hệ. Cơ cấu đội ngũ còn mất cân đối giữa các ngành, giữa giảng viên lý thuyết và thực hành. Tỷ lệ giảng viên có chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư còn thấp so với yêu cầu của một trường đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng.

2.3. Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giảng viên đã được chỉ ra. Về khách quan, cơ chế chính sách đãi ngộ chưa đủ sức hấp dẫn để giữ chân và thu hút nhân tài. Áp lực về số giờ giảng dạy khiến nhiều người không có đủ thời gian đầu tư cho nghiên cứu khoa học. Về chủ quan, một bộ phận giảng viên chưa thực sự chủ động trong việc tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ. Động lực giảng dạy và nghiên cứu đôi khi bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế. Việc thiếu một môi trường học thuật cạnh tranh và minh bạch cũng là rào cản cho sự phát triển toàn diện của đội ngũ giảng viên.

III. Phương pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

Để giải quyết các thách thức hiện hữu, cần có những phương pháp quản lý mang tính hệ thống và đột phá. Việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên không thể là một hoạt động đơn lẻ mà phải là một chiến lược toàn diện, bắt đầu từ cấp lãnh đạo cao nhất. Trọng tâm của chiến lược này là xây dựng một môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch và tạo động lực, nơi mỗi giảng viên đều có cơ hội phát triển tối đa tiềm năng của mình, đóng góp vào mục tiêu chung của công tác quản lý chất lượng giáo dục đại học.

3.1. Hoàn thiện chính sách trong quản lý chất lượng giáo dục

Chính sách là công cụ định hướng và điều tiết quan trọng nhất. Cần rà soát và hoàn thiện hệ thống chính sách liên quan đến tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và đánh giá giảng viên. Các chính sách cần được xây dựng theo hướng coi trọng năng lực thực chất, gắn kết quả công việc với thu nhập và cơ hội thăng tiến. Cần có cơ chế đặc thù để thu hút các nhà khoa học, chuyên gia giỏi trong và ngoài nước tham gia giảng dạy và nghiên cứu. Việc trao quyền tự chủ cho các trường đại học phải đi đôi với trách nhiệm giải trình và một hệ thống quản lý chất lượng giáo dục đại học hiệu quả, minh bạch.

3.2. Xây dựng và áp dụng chuẩn nghề nghiệp giảng viên

Việc xây dựng một bộ chuẩn nghề nghiệp giảng viên rõ ràng, cụ thể và phù hợp với đặc thù các trường kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết. Bộ chuẩn này sẽ là kim chỉ nam cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và là cơ sở để đánh giá chất lượng giảng viên một cách công bằng. Các tiêu chuẩn cần bao quát đầy đủ các khía cạnh về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm, năng lực nghiên cứu và phát triển chuyên môn liên tục. Áp dụng chuẩn nghề nghiệp một cách nghiêm túc sẽ góp phần sàng lọc và chuẩn hóa đội ngũ.

IV. Top giải pháp đột phá phát triển đội ngũ giảng viên toàn diện

Bên cạnh các giải pháp về quản lý vĩ mô, việc triển khai các hoạt động cụ thể nhằm phát triển đội ngũ giảng viên ở cấp độ cá nhân và tập thể đóng vai trò quyết định. Các giải pháp này cần tập trung vào việc tạo ra những cú hích thực sự trong hoạt động chuyên môn, thúc đẩy sự sáng tạo và hội nhập quốc tế. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một đội ngũ không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn có tư duy đổi mới, khả năng thích ứng cao trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ.

4.1. Khuyến khích đổi mới phương pháp giảng dạy hiện đại

Cần có chính sách mạnh mẽ để khuyến khích và hỗ trợ giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy. Thay vì lối truyền thụ một chiều, cần chuyển sang các phương pháp lấy người học làm trung tâm như học tập qua dự án, học tập dựa trên vấn đề, lớp học đảo ngược. Nhà trường cần đầu tư vào hạ tầng công nghệ, các phòng học thông minh và tổ chức các khóa tập huấn thường xuyên về kỹ năng sư phạm hiện đại. Việc đánh giá giờ giảng cần chú trọng vào hiệu quả tương tác và khả năng khơi dậy tư duy sáng tạo của sinh viên, thay vì chỉ đánh giá nội dung kiến thức.

4.2. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên

Nghiên cứu khoa học là “mạch máu” của một trường đại học. Để thúc đẩy nghiên cứu khoa học của giảng viên, cần giảm tải giờ dạy cho những người có đề tài, dự án. Xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, liên ngành để giải quyết các vấn đề lớn của ngành Công Thương. Đồng thời, cần có chính sách khen thưởng xứng đáng cho các công bố quốc tế uy tín (ISI/Scopus), các bằng phát minh, sáng chế. Kết nối chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiệp để các đề tài nghiên cứu bắt nguồn từ thực tiễn và kết quả có thể được chuyển giao, ứng dụng.

4.3. Nâng cao năng lực ngoại ngữ và hội nhập quốc tế

Ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, là chìa khóa để hội nhập. Cần xây dựng lộ trình và yêu cầu bắt buộc về chuẩn ngoại ngữ cho từng chức danh giảng viên. Tổ chức các khóa học tiếng Anh chuyên ngành, hỗ trợ kinh phí để giảng viên tham dự các hội thảo, hội nghị quốc tế. Mời các giáo sư, chuyên gia nước ngoài đến giảng dạy và làm việc. Khuyến khích các chương trình trao đổi giảng viên với các trường đại học uy tín trên thế giới. Đây là cách hiệu quả nhất để nâng cao trình độ và mở rộng tầm nhìn cho đội ngũ giảng viên.

03/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình khoa học liên quan đến nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các trường đại học ở Việt Nam Tác giả Nguyễn Văn Đệ (2009), “Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long trong bối cảnh hội nhập” [50] cho rằng: “Chất lượng giáo viên là đại lượng không thể bất biến, cả về bề rộng và chiều sâu của nội hàm. Biểu đồ nâng cao năng lực nghề nghiệp đối với giáo viên phải như đường xoáy “trôn ốc” theo chiều đi lên và tuyệt nhiên không có điểm dừng” [50, tr. Trên tinh thần đó, tác giả đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng năng lực của đội ngũ giảng viên các trường đại học ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long.

Tác giả thẳng thắn chỉ ra, bên cạnh những điểm đạt được thì đội ngũ giảng viên các trường đại học ở đồng bằng Sông Cửu Long hiện nay còn tồn tại những bất cập, hạn chế nhất định. Tác giả nhấn mạnh đội ngũ giảng viên đại học không phải chỉ dừng lại ở việc nhận học vị thạc sĩ, tiến sĩ mà quan trọng hơn là phải thường xuyên trau dồi chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nhất là đối với giảng viên trẻ. Ngoài ra, tác giả cũng chỉ ra ba loại nhu cầu cần đào tạo, bồi dưỡng thêm cho giảng viên đại học ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long: Thứ nhất, nhu cầu đạt chuẩn trình độ để đáp ứng việc giảng dạy trước mắt; Thứ hai, nhu cầu đạt chuẩn kỹ năng sư phạm góp phần nâng cao chất lượng dạy học; Thứ ba, nhu cầu đạt chuẩn cán bộ đầu đàn nhằm chủ động đào tạo đội ngũ giảng viên chất lượng cao, củng cố thương hiệu cho mỗi trường đại học. Qua đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp cơ bản để nâng cao năng lực giảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay.

Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương (2012), “Xây dựng đội ngũ giảng viên trong trường đại học - Thực trạng và giải pháp” [66], đã tiếp cận nghiên cứu và khảo sát số lượng đội ngũ giảng viên so với tỷ lệ sinh viên và trình độ học 11 vấn của giảng viên ở các trường đại học. Theo tác giả: Khi so sánh năm học 2007 - 2008 với năm học 2009 - 2010 thì tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ giảm xuống từ 14,33% xuống 13,86%. Ngoài ra, tác giả so sánh tỷ lệ tiến sĩ/sinh viên, tỷ lệ sinh viên/giảng viên với các nước thì ở Việt Nam đều ở mức thấp. Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu thực trạng đội ngũ giảng viên hiện nay, tác giả đưa ra yêu cầu và những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ giảng viên ở các trường đại học hiện nay cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu.

Tác giả Trần Mai Ước (2013), “Nghiên cứu khoa học của giảng viên - Yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học trong giai đoạn hiện nay” [124], đã nhấn mạnh đến vấn đề giảng dạy và nghiên cứu khoa học của giảng viên. Tác giả cho rằng đây là hai nhiệm vụ quan trọng - bắt buộc - cần thiết của bất kỳ giảng viên đại học nào. Cả hai nhiệm vụ này có quan hệ hữu cơ, bổ trợ lẫn nhau. Trong đó, tác giả đặc biệt coi trọng nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của giảng viên, tác giả cho rằng: Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của giảng viên đại học có ảnh hưởng lớn đến chất lượng, uy tín đào tạo đại học.

Tác giả chỉ ra tám lợi ích thiết thực của nghiên cứu khoa học đối với giảng viên, điển hình như nghiên cứu khoa học giúp giảng viên đào sâu, cập nhật, trau dồi tri thức; Phát triển tư duy, năng lực sáng tạo của giảng viên; Gắn kết giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết và thực hành. Tác giả Nguyễn Đức Hiển (2013), “Phát triển nguồn nhân lực giảng viên của Trường Đại học Kinh tế quốc dân hướng tới mục tiêu trở thành đại học nghiên cứu” [62], đã nghiên cứu về đội ngũ giảng viên nhưng ở một trường đại học cụ thể. Tác giả phân tích, làm rõ tiêu chí, tiêu chuẩn, đặc trưng của một trường đại học nghiên cứu đào tạo sau đại học và cho rằng, trường đại học nghiên cứu phải là trường đại học có tỷ lệ nghiên cứu đào tạo sau đại học chiếm tỷ trọng cao; trong đó hoạt động nghiên cứu khoa học mang lại nguồn thu chủ yếu thông qua liên kết nghiên cứu bên ngoài, đội ngũ giảng viên có trình độ và tận tậm với giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Chiếu theo các tiêu chuẩn, đặc trưng này thì Trường Đại học Kinh tế quốc dân vẫn chưa 12 đáp ứng đầy đủ cả về chất lượng và số lượng, đặc biệt đội ngũ giảng viên ở thế hệ trẻ đang có xu hướng học tập, nâng cao trình độ trong nước, dẫn đến yếu về ngoại ngữ và quan hệ với đối tác nước ngoài như hoạt động hợp tác quốc tế còn có những hạn chế nhất định: Giảng viên chủ động tham gia nghiên cứu khoa học chưa nhiều, nhất là chưa đủ điều kiện làm chủ biên các công trình khoa học: giáo trình, sách chuyên khảo…chủ yếu là giảng viên có nhiều kinh nghiêm, có thâm niên giảng dạy; Giảng viên trẻ phần lớn chỉ là thành viên tham gia.

Trên cơ sở các tiêu chí, yêu cầu của một trường đại học nghiên cứu, tác giả đã đề ra những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực giảng viên của Trường Đại học Kinh tế quốc dân, hướng tới mục tiêu đưa Trường Đại học Kinh tế quốc dân trở thành đại học nghiên cứu - một trường đạt chuẩn quốc tế. Tác giả Nguyễn Văn Lượt (2013) “Động cơ giảng dạy của giảng viên đại học” [82], đã nghiên cứu, tiếp cận đội ngũ giảng viên ở góc độ tâm lý học và chỉ ra động cơ giảng dạy của giảng viên được hình thành trong hoạt động và giao tiếp của họ, trong các mối quan hệ đa dạng. Do đó, khi xem xét vấn đề động cơ giảng dạy của giảng viên phải xem xét thông qua các hoạt động, trong các mối quan hệ xã hội của họ. Xem xét động cơ giảng dạy của giảng viên phải gắn liền với nhu cầu trên bình diện nhân cách của giảng viên.

Qua đó, tác giả khẳng định: Chất lượng giảng dạy của giảng viên phụ thuộc rất nhiều vào động cơ giảng dạy của các giảng viên. Vì vậy, việc nghiên cứu, xây dựng, phát huy vai trò, động cơ giảng dạy đúng đắn cho các giảng viên sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giảng viên, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong các trường đại học. Tác giả Nguyễn Danh Tuấn (2013), “Giảng viên - “chìa khóa” mở cánh cửa chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng” [115] và tác giả Ngô Quang Trường (2015), “Đổi mới giáo dục đại học: cần bắt đầu từ chất lượng giảng viên” [118], đã tiếp cận nâng cao công tác giáo dục, đào tạo từ chất lượng, vị trí, vai trò của đội ngũ giảng viên. Các tác giả cho biết: Hiện nay, Việt Nam 13 có rất nhiều trường đại học, cao đẳng; Tính bình quân mỗi tỉnh có 7 trường, trừ Hà Giang chưa có trường đại học nào.

Đồng nghĩa với việc này là số lượng giảng viên tăng lên tương ứng. Tuy nhiên, việc tăng chất lượng giảng viên không thể ra lò nhanh như thành lập một trường đại học, dẫn đến đa số các trường đại học mới thành lập đều thiếu hụt đội ngũ giảng viên đủ chuẩn về học vị, hạn chế về năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học. Chính nguyên nhân này khiến cho uy tín, chất lượng đào tạo của một số trường bị suy giảm, ảnh hưởng đến tuyển sinh và chất lượng đào tạo. Theo các tác giả, đội ngũ giảng viên chính là “máy cái’, là “chìa khóa” để mở cánh cửa nâng cao chất lượng đào tạo đại học, cao đẳng.

Qua đó, các tác giả đã đưa ra những yêu cầu và giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các trường đại học hiện nay. Tác giả Hoàng Văn Mạnh (2014), “Chất lượng đội ngũ giảng viên: từ góc nhìn năng lực nghiên cứu khoa học” [85] cho rằng: Đánh giá chất lượng giảng viên là một công việc khó, không dễ và có nhiều tiêu chí để đánh giá chất lượng giảng viên như: Học vị, năng lực giảng dạy, năng lực nghiên cứu khoa học, trình độ ngoại ngữ… Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến năng lực nghiên cứu khoa học và coi nghiên cứu khoa học như là tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá chất lượng giảng viên. Theo tác giả: Thực tế các tiêu chuẩn xếp hạng các trường đại học trên thế giới chủ yếu lấy nghiên cứu khoa học làm tiêu chí hàng đầu để chấm điểm các trường đại học. Liên hệ đến Việt Nam thì năng lực nghiên cứu khoa học của các trường đại học cũng như của các giảng viên đại học Việt Nam còn khá yếu và thiếu so với các nước trong khu vực như: Thái Lan, Singapore, Indonesia về việc công bố các bài tạp chí khoa học quốc tế và việc đăng ký bản quyền phát minh, sáng chế khoa học hàng năm.

Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả đã đề ra những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học cho giảng viên ở các trường đại học ở Việt Nam hiện nay. 14 Tác giả Nguyễn Thị Thơm (2016), “Nâng cao chất lượng cán bộ giảng viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội” [103], nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường đại học, cao đẳng luôn được các quốc gia trên thế giới quan tâm, chú trọng, coi đây là nguồn nhân lực “đặt nền móng” cho việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế là chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước và Thủ đô Hà Nội trong thời gian qua, đòi hỏi Thủ đô Hà Nội phải coi trọng việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giảng viên ở các trường đại học, cao đẳng. Thực tiễn cho thấy, phát triển đội ngũ cán bộ, giảng viên các trường đại học, cao đẳng trên địa bàn Thủ đô mặc dù đã đạt được một số thành tựu quan trọng, song cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết cần kịp thời giải quyết hiệu quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ