Tổng quan về luận án
Tiến trình vận động của văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX (giai đoạn 1900–1930) ghi nhận bước chuyển mình mang tính bước ngoặt lịch sử: cuộc chuyển giao hệ hình toàn diện từ phạm trù văn học trung đại sang hiện đại, từ không gian ảnh hưởng khu vực Đông Á sang hội nhập trực tiếp với văn hóa phương Tây. Đứng tại tâm điểm của biến thiên lịch sử này là sự xuất hiện của một lực lượng sáng tác đặc thù: loại hình tác giả Nho học - Tân học. Đây là thế hệ trí thức bản lề mang cấu trúc tư tưởng lưỡng hợp, vừa thụ đắc nền tảng Hán học truyền thống, vừa tiếp biến sâu sắc học vấn Tây học và chữ Quốc ngữ.
Khoảng trống học thuật (research gap) cốt lõi mà luận án nhận diện nằm ở sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu hệ thống, hoàn chỉnh về loại hình tác giả Nho học - Tân học với tư cách một thực thể thẩm mỹ độc lập. Trước đây, giới nghiên cứu thường tiếp cận các tác giả như Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Ngô Tất Tố một cách đơn lẻ, hoặc xem các đặc điểm như cảm hứng luân lý, dấu ấn biền ngẫu, kết cấu chương hồi là "những hạn chế rơi rớt từ quá khứ" hơn là một phương thức thích ứng văn hóa tất yếu. Luận án tái định vị vai trò của họ như những chủ thể kiến tạo cầu nối thể loại trong buổi đầu hình thành tiểu thuyết Quốc ngữ.
Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa qua hệ thống câu hỏi và giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Những điều kiện lịch sử - xã hội, thiết chế ngôn ngữ, báo chí và giáo dục nào đã thúc đẩy sự chuyển hóa từ nhà nho truyền thống sang loại hình tác giả Nho học - Tân học?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Quy luật loại hình và ý thức nghệ thuật của nhóm tác giả này chi phối như thế nào đến việc lựa chọn thể loại văn xuôi tự sự quy mô lớn?
- Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Những đóng góp thi pháp mang tính đột phá và những giới hạn lịch sử của họ trên các bình diện đề tài - chủ đề, kết cấu cốt truyện, hệ thống nhân vật, giọng điệu và ngôn ngữ tiểu thuyết Quốc ngữ là gì?
Hệ giả thuyết tương ứng:
- Giả thuyết 1 (H1): Tác giả Nho học - Tân học không phải là hiện tượng thoái trào hay bảo thủ, mà là một lực lượng tiên phong thích ứng văn hóa, đóng vai trò bản lề trong hiện đại hóa văn học.
- Giả thuyết 2 (H2): Cấu trúc tư duy thẩm mỹ song hành (Nho học và Tân học) quy định sự hình thành của một mô hình tiểu thuyết giao thời độc đáo: dung hợp giữa đạo đức truyền thống và kỹ thuật tự sự phương Tây.
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa Lý thuyết Loại hình học văn học (Typology) của trường phái Nga (V. Zhirmunsky) gắn với các tiếp biến tại Việt Nam (Trần Đình Hượu, Trần Ngọc Vương) và Lý thuyết Tự sự học (Narratology) của Tzvetan Todorov, Gérard Genette, Trần Đình Sử. Phạm vi khảo sát tập trung vào 5 tác giả trung tâm: Nguyễn Chánh Sắt (1869–1947), Hồ Biểu Chánh (1884–1958), Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889–1939), Nguyễn Trọng Thuật (1883–1950), Ngô Tất Tố (1894–1954), cùng hệ thống tư liệu mở rộng gồm hàng trăm tác phẩm báo chí, tiểu thuyết Nam - Bắc đầu thế kỷ XX.
Literature Review và Positioning
Lịch sử nghiên cứu về văn học giao thời và tiểu thuyết Quốc ngữ đầu thế kỷ XX phân bổ qua nhiều dòng học thuật với các góc nhìn đối thoại phong phú:
Thứ nhất, dòng nghiên cứu loại hình học tác giả nhà nho trung cận đại với những đóng góp nền tảng của Trần Đình Hượu (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930, Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại) và chuyên khảo mang tính cột mốc của Trần Ngọc Vương (Loại hình học tác giả văn học - Nhà nho tài tử và văn học Việt Nam). Trần Ngọc Vương đã xác lập ba mẫu hình: nhà nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu dừng lại ở phạm trù văn học trung đại hoặc mở đầu giai đoạn giao thời, chưa đi sâu khảo sát diện mạo loại hình tác giả Nho học - Tân học khi chuyển dịch hoàn toàn sang thể loại tiểu thuyết văn xuôi Quốc ngữ.
Thứ hai, dòng nghiên cứu văn xuôi và tiểu thuyết Nam Bộ khởi xướng từ Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại, 1942), Thiếu Sơn (Lối văn phê bình nhân vật: Ông Hồ Biểu Chánh, 1931), Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, 1965), Nguyễn Khuê (Chân dung Hồ Biểu Chánh, 1974), đến các công trình của Bùi Đức Tịnh (Những bước đầu của báo chí, truyện ngắn, tiểu thuyết và thơ mới, 1974), Nguyễn Kim Anh (Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, 2004). Các tác giả đã ghi nhận quy mô đồ sộ của văn xuôi Nam Kỳ nhưng phần lớn chỉ dừng lại ở mô tả diện mạo, phê bình tiểu truyện hoặc khảo cứu thư mục.
Thứ ba, sự đối lập trong quan điểm đánh giá thẩm mỹ: Một luồng ý kiến (tiêu biểu ở một số công trình phê bình xã hội học mác-xít trước 1986 như Phan Cự Đệ, 1974) từng có phần khắt khe khi nhìn nhận tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Chánh Sắt mang nặng tính "bảo thủ", "luân lý phong kiến", "kỹ thuật thô sơ mô phỏng truyện Tàu hoặc tiểu thuyết trinh thám bình dân phương Tây". Ngược lại, các nghiên cứu từ sau 1986 (Võ Văn Nhơn, Đoàn Lê Giang, Trần Văn Toàn, Phan Mạnh Hùng) đã phục hồi vị thế khoa học của giai đoạn này, đánh giá cao chức năng chuyển giao tự sự và tính chất bình dân hóa ngôn ngữ.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế, Maurice M. Durand và Nguyễn Trần Huân (Introduction à la littérature Vietnamienne, 1969) hay Bùi Xuân Bào (Le roman Vietnamien contemporain, 1972) từng định vị tác phẩm Quả dưa đỏ (Nguyễn Trọng Thuật, 1925) và Tố Tâm (Hoàng Ngọc Phách, 1925) là khởi điểm của tiểu thuyết hiện đại nhưng chưa lý giải thỏa đáng tính liên tục sinh mệnh của loại hình tác giả. Trong khi đó, nghiên cứu của Cao Thị Như Quỳnh và John C. Schafer (Hồ Biểu Chánh and the early development of the Vietnamese novel, 1988; From verse narrative to novel, 1988) đã nhận ra bước chuyển từ truyện thơ Nôm sang văn xuôi hư cấu hiện đại qua vai trò bản địa hóa của Hồ Biểu Chánh. Luận án của Bùi Thị Lan Hương định vị công trình như một nghiên cứu chuyên sâu, tổng hợp toàn diện nhằm thiết lập khung lý thuyết loại hình cho đội ngũ tác giả bản lề này.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án tạo ra bước phát triển mở rộng đối với lý thuyết loại hình học tác giả văn học tại Việt Nam. Bằng việc bổ sung và định danh chuẩn xác khái niệm "Tác giả Nho học - Tân học", công trình kéo dài trục phân loại ba thế năng ứng xử của Trần Ngọc Vương (hành đạo - ẩn dật - tài tử) sang một loại hình thứ tư mang tính chuyển giao lịch sử: loại hình trí thức lưỡng hợp văn hóa trong kỷ nguyên thuộc địa. Luận án chứng minh rằng: "Tác giả Nho học - Tân học, trước hết là những nhà văn được học hành và chịu ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho học và nền học vấn truyền thống. Do hoàn cảnh lịch sử buổi giao thời, họ đồng thời cũng được học tập và chịu ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và nền học vấn mới ảnh hưởng của phương Tây... hình thành một thế hệ các nhà cầm bút mới - những con người của hai thế kỷ".
Trên bình diện tự sự học, luận án làm sáng rõ tiến trình dịch chuyển cấu trúc diễn ngôn: từ "người kể chuyện toàn tri mang chức năng giáo huấn" thời trung đại sang sự xuất hiện của "tác giả hàm ẩn" (implied author) theo cách diễn giải của Trần Đình Sử: "Nhà văn sẽ không bao giờ hiện diện trong tiểu thuyết như là một người kể, người phát ngôn, mà chỉ xuất hiện như là một tác giả hàm ẩn, một cái Tôi thứ hai của nhà văn, với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm".
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| HỆ HÌNH TÁC GIẢ NHO HỌC - TÂN HỌC ĐẦU THẾ KỶ XX |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| TIỀN ĐỀ VĂN HÓA - TƯ TƯỞNG | TIỀN ĐỀ THỂ CHẾ & TRUYỀN THÔNG |
| - Cựu học: Đạo đức cương thường, Hán học| - Thiết chế ngôn ngữ: Chữ Quốc ngữ |
| - Tân học: Triết học Ánh sáng, Pháp văn | - Thể chế truyền thông: Báo chí & Đô thị|
+-----------------------------------------------------------------------------------+
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| ĐẶC TRƯNG THI PHÁP TIỂU THUYẾT QUỐC NGỮ |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột:
- Trụ cột Loại hình học (Typological pillar): Phân lập các nhóm tác giả dựa trên xuất thân giáo dục (đỗ đạt Nho học tự học tiếng Pháp như Ngô Tất Tố, Tản Đà; hoặc xuất thân Nho học theo học trường Pháp - Việt như Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh).
- Trụ cột Tự sự học thi pháp (Narratological pillar): Giải phẫu vi mô văn bản tự sự qua 4 tầng bậc: Đề tài/chủ đề $\rightarrow$ Cốt truyện $\rightarrow$ Nhân vật $\rightarrow$ Giọng điệu & Ngôn ngữ.
- Trụ cột Xã hội học - Văn hóa học liên ngành (Interdisciplinary cultural pillar): Đặt văn bản tiểu thuyết trong mạng lưới tương tác với đô thị hóa, thiết chế báo chí (Gia Định báo, Nông cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn, Nam Phong, An Nam tạp chí), chính sách thuộc địa và thị hiếu của tầng lớp thị dân mới.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu vận hành theo lập trường nhận thức luận Diễn giải học (Interpretivism) kết hợp Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) và thi pháp học lịch sử. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level design) bao quát:
- Cấp độ vĩ mô: Bối cảnh biến đổi kinh tế - xã hội, chính sách ngôn ngữ thuộc địa (Nghị định 6-4-1878 và Thông tư 1-6-1910 của Thống sứ Simori bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ trong công sở).
- Cấp độ trung mô: Môi trường sinh thái truyền thông gồm hệ thống báo chí, nhà in, mạng lưới dịch thuật truyện Tàu - tiểu thuyết Pháp, sự hình thành công chúng thị dân.
- Cấp độ vi mô: Cấu trúc văn bản tác phẩm của 5 tác giả tiêu biểu qua các chỉ số phong cách học.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược lấy mẫu chủ đích (Purposive Sampling) được thực hiện nghiêm ngặt:
- Tiêu chuẩn lựa chọn (Inclusion criteria): Tác giả sinh trưởng trong môi trường Nho giáo, có tiếp thu Tân học, trực tiếp viết và xuất bản tiểu thuyết bằng chữ Quốc ngữ trong giai đoạn 1900–1930, có tác phẩm gây tiếng vang xã hội.
- Tiêu chuẩn loại trừ (Exclusion criteria): Các tác giả Nho học thuần túy chỉ sáng tác bằng chữ Hán/Nôm; các tác giả hoàn toàn Tây học không có gốc gác Nho học; hoặc các tác giả cùng thời nhưng không sáng tác thể loại tiểu thuyết.
Quy trình bảo đảm độ tin cậy thông qua tam giác hóa dữ liệu (Data triangulation): Đối chiếu giữa văn bản tiểu thuyết nguyên bản trên báo chí/sách xuất bản thời kỳ đầu với hồi ký, tư liệu văn học sử, thư tịch địa chí (như thư mục 1122 tác phẩm của Bùi Đức Tịnh) và các phê bình đương thời (Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn, Kiều Thanh Quế).
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU & KHẢO SÁT DỮ LIỆU CỦA LUẬN ÁN |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| [1. NGUỒN TƯ LIỆU VĂN BẢN] |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| [2. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ LIÊN NGÀNH] |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| [3. ĐÁNH GIÁ & TỔNG HỢP LOẠI HÌNH] |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Data và phân tích
Dữ liệu khảo sát bao gồm toàn bộ di sản tiểu thuyết của 5 tác gia đại diện: 15 tiểu thuyết của Nguyễn Chánh Sắt (Tài mạng tương đố, Nghĩa hiệp kỳ duyên, Gái trả thù cha...); hơn 60 tác phẩm của Hồ Biểu Chánh (trọng tâm giai đoạn 1912–1932: Ai làm được, Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời, Con nhà nghèo...); các tiểu thuyết luận đề - tự truyện của Tản Đà (Giấc mộng con I & II, Thề non nước); Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật; Tắt đèn, Lều chõng của Ngô Tất Tố.
Luận án vận dụng thao tác thống kê văn bản để định lượng sự chuyển biến ngôn ngữ: khảo sát tỷ lệ thuyên giảm của câu văn biền ngẫu đối ngẫu, sự suy giảm mật độ từ Hán - Việt ước lệ, sự gia tăng đột biến của lớp từ vựng khẩu ngữ Nam Bộ (ở Nguyễn Chánh Sắt, Hồ Biểu Chánh) và lời ăn tiếng nói thôn quê Bắc Bộ (ở Ngô Tất Tố).
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
- Sự biến đổi hệ hình đề tài - chủ đề: Các tác giả Nho học - Tân học đã chuyển hóa triệt để từ đề tài chí khí quân tử, hành đạo ước lệ sang ba cụm chủ đề thế sự: Đạo đức luân lý trong gia đình và xã hội thương nghiệp hóa; Phê phán sự băng hoại của quan lại, địa chủ; Khát vọng tự do trong tình yêu và hôn nhân.
- Kỹ thuật tổ chức cốt truyện lưỡng hợp: Tồn tại hai mô hình kết cấu song hành: Kết cấu vay mượn/phóng tác từ tiểu thuyết phương Tây được bản địa hóa hoàn toàn vào không gian phong tục Việt Nam (tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh phỏng tác Victor Hugo, Alexandre Dumas, Hector Malot thành Ngọn cỏ gió đùa, Chúa tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời) và Kết cấu cốt truyện tự sáng tạo mang tính xã hội - luận đề sâu sắc.
- Thiết lập hệ thống 4 loại hình nhân vật điển hình:
- Nhân vật con người đạo đức, trọng nghĩa khinh tài (kế thừa tinh thần hiệp nghĩa truyền thống).
- Nhân vật tài tử mang ảo mộng thoát ly (nhân vật tự biểu hiện cái tôi cá nhân).
- Nhân vật nạn nhân cùng khổ bị áp bức (chị Dậu trong Tắt đèn, con nợ bần nông trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh).
- Nhân vật tha hóa, quan lại, địa chủ hủ bại (đòn bẩy hiện thực phê phán).
- Cách mạng hóa ngôn ngữ nghệ thuật và điểm nhìn trần thuật: Luận án chứng minh sự triệt tiêu dần của lối văn biền ngẫu ước lệ, nhường chỗ cho dòng văn xuôi tự nhiên, linh hoạt, gần gũi với lời ăn tiếng nói sinh hoạt hằng ngày; đồng thời phát hiện những mầm mống sơ khai nhưng vững chắc của nghệ thuật miêu tả tâm lý và độc thoại nội tâm.
Implications đa chiều
- Về mặt lý luận văn học: Cung cấp mô hình phân tích loại hình học chuyển tiếp cho các nền văn học hậu thuộc địa hoặc các quốc gia đồng văn Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) khi bước vào hiện đại hóa.
- Về lịch sử văn học: Xóa bỏ định kiến đánh giá thấp văn xuôi giao thời, xác lập vị trí của văn học Nam Kỳ buổi đầu như một cội nguồn quan trọng của văn xuôi hiện đại dân tộc.
- Về thực tiễn giáo dục: Cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác để tái cấu trúc nội dung giảng dạy các tác gia Hồ Biểu Chánh, Tản Đà, Ngô Tất Tố trong chương trình Ngữ văn trung học phổ thông và đại học.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:
- Giới hạn phạm vi khảo sát: Do dung lượng luận án, công trình mới chỉ khảo sát sâu 5 tác giả hạt nhân, chưa thể bao quát toàn bộ 276 tác phẩm tiểu thuyết/truyện ngắn trong thư mục văn học Nam Bộ giai đoạn 1866–1930.
- Giới hạn thể loại phái sinh: Chưa dành dung lượng thỏa đáng để phân tích sâu các phân nhánh tiểu thuyết trinh thám (Biến Ngũ Nhy, Phú Đức) hay tiểu thuyết diễm tình - kỳ hiệp đương thời.
Hướng nghiên cứu tương lai (Future research agenda):
- Ứng dụng Nhân văn số (Digital Humanities) để phân tích định lượng phong cách học (Stylometry) trên toàn bộ kho ngữ liệu văn xuôi Quốc ngữ 1887–1932.
- Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia (Transnational comparative literature) giữa tiểu thuyết Nho học - Tân học Việt Nam với tiểu thuyết thời kỳ Minh Trị (Nhật Bản) và phong trào tiểu thuyết Uyên ương Hồ điệp (Trung Quốc).
Tác động và ảnh hưởng
Công trình tạo ra xung lực học thuật mạnh mẽ, trở thành tài liệu tham chiếu thiết yếu cho các nghiên cứu về văn học sử và văn hóa học giai đoạn đầu thế kỷ XX. Về mặt xã hội, kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định giá trị của di sản văn hóa chữ Quốc ngữ, bảo tồn các giá trị thẩm mỹ truyền thống trong kỷ nguyên hiện đại hóa.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh & Học viên Cao học: Khai thác khung lý thuyết loại hình học tác giả và phương pháp tự sự học liên ngành để mở rộng đề tài.
- Giảng viên & Nhà nghiên cứu đại học: Sử dụng tư liệu và hệ thống phân tích để làm phong phú giáo trình Văn học Việt Nam cận hiện đại.
- Nhà hoạch định chương trình giáo dục: Bổ sung các góc nhìn thẩm mỹ đa chiều khi thẩm định tác phẩm văn học giao thời trong nhà trường.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đó là việc xác lập và hệ thống hóa mô hình "Loại hình tác giả Nho học - Tân học" như một nấc thang phát triển tất yếu trong lịch sử văn học dân tộc, bổ sung trực tiếp vào lý thuyết loại hình học tác giả nhà nho của Trần Ngọc Vương, chứng minh năng lực thích ứng và chuyển đổi thẩm mỹ của trí thức Á Đông trước làn sóng phương Tây.
2. Đột phá phương pháp luận của luận án khi so sánh với các nghiên cứu trước đây?
Khác với lối nghiên cứu xã hội học dung tục thuần túy hoặc phê bình tiểu sử tác gia đơn lẻ, luận án tích hợp phương pháp loại hình học cấu trúc với tự sự học văn bản và văn hóa học liên ngành, xử lý đồng thời mối quan hệ giữa biến đổi thiết chế ngôn ngữ (chữ Quốc ngữ, báo chí) với cấu trúc nghệ thuật nội tại của tác phẩm.
3. Phát hiện gây ngạc nhiên nhất từ dữ liệu khảo sát là gì?
Tiểu thuyết phỏng tác phương Tây của các tác giả Nho học - Tân học (như Hồ Biểu Chánh) không phải là sự sao chép cơ học, mà là quá trình "tái cấu trúc văn hóa" (cultural restructuring), trong đó cốt truyện phương Tây được nhào nặn để chuyên chở đạo lý nhân nghĩa, phong tục tập quán và tâm lý thẩm mỹ thuần Việt.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (replication protocol) không?
Có. Toàn bộ tiêu chí phân loại tác giả, tiêu chuẩn chọn mẫu ngữ liệu và các bước giải phẫu cấu trúc tự sự (đề tài $\rightarrow$ cốt truyện $\rightarrow$ nhân vật $\rightarrow$ ngôn ngữ) được chuẩn hóa tường minh, cho phép nhân rộng nghiên cứu trên các nhóm tác giả giao thời khác.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tới mở ra từ luận án là gì?
Mở rộng nghiên cứu số hóa toàn văn kho tàng văn xuôi Quốc ngữ 1865–1945, đối sánh tiến trình hiện đại hóa thể loại tự sự trong toàn bộ không gian quyển văn hóa chữ Hán (Sinosphere).
Kết luận
- Khẳng định tính tất yếu lịch sử và vị thế thẩm mỹ độc lập của loại hình tác giả Nho học - Tân học trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
- Làm sáng tỏ sự chuyển dịch hệ hình tư duy nghệ thuật từ "văn dĩ tải đạo" sang văn học phản ánh hiện thực đời sống và thế sự thị dân.
- Chứng minh bước nhảy vọt về thi pháp tiểu thuyết: chuyển giao từ kết cấu chương hồi sang kết cấu nhân quả - tâm lý; từ mẫu hình nhân vật hành động ước lệ sang nhân vật đa chiều, giàu tính hiện thực.
- Ghi nhận công lao cách tân ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật: giảm trừ biền ngẫu, đẩy mạnh khẩu ngữ hóa và kiến tạo lời văn nghệ thuật chữ Quốc ngữ giàu bản sắc.
- Mở ra hướng tiếp cận liên ngành Loại hình học - Tự sự học - Văn hóa học cho nghiên cứu văn học sử Việt Nam và khu vực.