CHƯƠNG 1: TRUYỆN THƠ QUOC NGỮ DAU THÊ KỶ XX VA TÁC PHẨM U TÌNH LỤC CỦA HÒ BIÊU CHÁNH Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam bước đầu hiện đại hóa theo xu hướng tiếp biến những ảnh hưởng của khu vực và Tây phương. Bắt đầu từ Nam kỳ thuộc Pháp, trong những điều kiện đặc biệt của xã hội, lịch sử, văn học Việt Nam đã đi những bước đầu tiên bằng mảng văn học quốc ngữ xuất hiện sớm nhất ở miền Nam vào cuối thé kỷ XIX dau thé ky XX. Thời điểm này, Nam Ky là thuộc địa do người Pháp trực tiếp cai trị với một hệ thống luật pháp của mẫu quốc. Đứng đầu Nam Ky là Thống đốc và bên dưới là các chủ tỉnh người Pháp.
Nhà cam quyên Pháp áp dụng nhiều chính sách dé tiến hành cai trị Nam Kỳ trên tat cả các lĩnh vực của đời sông xã hội.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội Trong bước chuyên từ thời kỳ Trung đại sang thời hiện đại, đô thị và đời sống đô thị có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của văn chương. Thế kỷ XIX, Gia Định thành đã là một đô thị quan trọng sánh ngang Thăng Long và Phú Xuân nhưng khác chức năng chính là trung tâm chính trị. Sài Gòn - Gia Định được nhìn nhận có một vai trò kinh tế quan trọng (thương nghiệp, xuất nhập khẩu, thủ công nghiệp) bên cạnh vai trò trung tâm chính trị - văn hóa của Đàng Trong. Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, văn học quốc ngữ đã được hình thành trong thời kỳ miền Nam rơi vào vòng thuộc địa qua nhiều chặng đường xâm lăng của thực dân Pháp.
Theo lời tựa Lich sw khai phá vùng đất Nam bộ, năm 1834, thành Gia Định được đồi tên làm Nam kỳ gồm sau tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Tên Nam kỳ được dùng cho đến thời Pháp thuộc. Thang 2 năm 1859, thực dân Pháp nỗ súng xâm lược Nam kỳ, mặc dù vấp phải sự đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân nhưng Pháp vẫn chiếm được Gia Định và Định Tường. Chế độ cai trị của thực dân Pháp thay đổi theo từng thời kỳ dưới sự chỉ đạo của người đứng đầu.
Sau khi chiếm được Gia Định và Định Tường, trung tướng Charner đặt một tên quan Pháp làm tối cao quản đốc việc cai trị bản xứ và 13 lập ra một ngạch sĩ quan cai trị người Pháp gọi là Quản đốc việc cai trị bản xứ. Sau hơn 3 năm xâm lược Việt Nam, Pháp chiếm được 4 tỉnh thành : Gia Định, Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long. Sau đó, với sự thái độ nhu nhược của triều đình Huế, thực dân Pháp xâm chiếm vùng Đông Nam Bộ. Với Hoà ước ngày 5/6/1862, Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông sau đó thu tóm hết cả 6 tỉnh Nam kỳ vào năm 1867, cho đến hoà ước Patenôtre 1884 thì Việt Nam hoàn toàn mat hết độc lập chủ quyền.
Từ đó đã dẫn đến nhiều biến chuyền quan trọng trong xã hội Nam kỳ. Khi “bình định” xong cũng là lúc thực dân Pháp tăng cường dau tư dé khai thác vùng đất thuộc địa này. Thực dân Pháp hoạt động mạnh ở Nam kỳ từ những năm 1880 trở đi với việc phát triển hệ thống phương tiện giao thông, mở đường xe lửa Sài Gòn — Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm Cỏ. Thêm vào đó là rất nhiều công xưởng mọc lên ở Sài Gòn, Chợ Lớn.
Kinh tế ở Nam kỳ tiếp tục phát triển ở những năm đầu thế kỷ XX. Các nhà máy được thành lập, phương tiện giao thông phát triển hơn trước. Người Việt Nam đã nhận thức ra rằng việc phát triển kinh tế. Nam kỳ, xây dựng nhà máy, cầu công, đường xá, tất cả chỉ nhằm mục tiêu khai thác chứ không phải vì “khai hóa”.
Cùng với quá trình thực dân hoá, đô thị ở Việt Nam đặc biệt phát triển mạnh. Đây là nơi tích tụ và phản ánh những chuyền biến của xã hội Việt Nam trong quá trình hiện đại hoá. Tại đô thị xuất hiện những tầng lớp xã hội chưa từng có trong truyền thống. Do vừa là sản phẩm trực tiếp của quá trình xây dựng xã hội thuộc địa của người Pháp, vừa là hệ quả của quá trình chuyển dịch cơ câu xã hội truyền thống dé thích nghi với điều kiện sống mới.
Những người nông dân và thợ thủ công không có việc làm ở nông thôn kéo nhau ra thành phố tạo nên một tầng lớp thị dân ngày càng đông. Sài Gòn và các trung tâm lớn của Nam kỳ từ từ được đô thị hoá, kéo theo sự xuất hiện của tầng lớp tư sản và tầng lớp thợ thuyền, công nhân. Tầng lớp tư sản Nam kỳ thời kỳ này chỉ mới là số ít, hiếm người Việt Nam làm giàu được ngay trên đất nước của mình. Nền kinh tế khai thác thuộc địa của Pháp đã tỏ ra hoạt động có hiệu quả.
Cảng Sài Gòn được mở năm 1860, và các công nghiệp liên quan đều được chú ý phát triển như nghề 14 đóng thuyền, vận tải đường sông, nhà máy xay lúa. Quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh chóng, nhất là ở những trung tâm quan trọng như Sài Gòn, Chợ Lớn. Trong quá trình phát triển thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn cần phải nói thêm vài nét về vai trò của người Hoa. Người Hoa thường sống tập trung trong vùng chợ Lớn, phần lớn làm nghề buôn bán và thợ thủ công.
Họ đến đây sinh sống từ lâu đời và chiếm một tỷ lệ khá lớn trong kết cau dan cư Sài Gòn — Chợ Lớn. Người Hoa ở Sài Gòn — chợ Lớn đã hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực kinh doanh — buôn bán. Khi chính quyền Pháp được thiết lập, dé thực hiện công cuộc “bình định” thực dân Pháp đã chấp nhận họ làm thành phân trung gian. Theo Phan Khoang trong cuốn Việt Nam Pháp thuộc sử, chính quyền Pháp đã nhìn thấy ở người hoa sự trợ giúp quý báu dé hoàn thành công cuộc thực dân.
Dé có thé tiếp xúc, dé chiến thắng sự lạc hậu và mong muôn của nhân tô bản xứ, người môi giới này chính là người Hoa. Những biến đổi trong thời kỳ này khi xã hội Nam Bộ biến đổi sâu sắc dẫn đến sự thay đổi của các tầng lớp xã hội, một bộ phận công chúng mới hình thành ở các đô thị, tang lớp tiểu tư sản thị dân. Những người nông dân nghèo khô từ giã ruộng đồng tìm đến thành thị để kiếm sống. Trong số họ, có những người vào làm trong các công xưởng, nhà máy hay đồn điền của thực dân, trở thành những phu xe, bồi bếp hay công nhân.
Số khác không tim được việc làm phải biến thành lưu manh, gái điểm. Từ đó xã hội hình thành nên tang lớp dân nghèo đông đảo. Mặt khác, nội dung thi cử được sửa đổi từ năm 1906 đã dan làm thay đổi cách học, cách nghĩ và cả cách sống của giới trí thức. Sự thay đổi trong cuộc sống đi liên với sự thay đôi của cuộc sống tinh than, đời sống của người dan Nam bộ đã manh nha diễn ra theo hướng của xã hội hiện đại phương tây.
Sự thay đổi đó khiến cho đời sông văn học nghệ thuật cũng có sự đổi thay : “Người ta — nhất là người dân thành thị - trong cuộc sống dua chen, cạnh tranh cần song thực, không thể thoả mãn với những lời giáo huấn về đạo lý cương thường. 15 Người ta cân hiêu rõ, hiêu kỹ cuộc sông với cả những tinh tiệt đây đủ, những chi tiết cụ thể, gây được cảm giác, thoả mãn được sự tò mò” [10; tr. Trên tông thể có sự thay đổi như vậy, tuy nhiên trong bước chuyền từ thể loại được thịnh hành trong văn học trung đại là thơ sang thời kỳ văn học hiện đại với thé loại tiêu biểu là tiểu thuyết ở Nam bộ, chúng ta sẽ thấy sự giao động giữa cái mới và cái cũ, ranh giới giữa các phạm trù còn khó lòng phân định được. Điều này đã chứng tỏ giai đoạn giao thời của văn học Nam bộ còn nảy sinh những vấn đề mang tính bản lề, trung gian mà truyện thơ Quốc ngữ chính là gạch nối của sự chuyên giao nay.2 Những tiền đề về văn hoá của truyện thơ Quốc ngữ 1.1 Chính sách sử dụng chữ Quốc ngữ trong hành chính và nhà trường Chữ viết là một trong những yếu tố quan trọng khi tìm hiểu tiến trình và thành tựu của văn học, bởi suốt chiều dài 10 thế kỷ trung đại, văn học viết của dân tộc được xây dựng trên hai thứ chữ là chữ Hán và chữ Nôm.
Đến thời kỳ hiện đại, văn học hiện đại được khởi động và đánh dấu với sự xuất hiện chữ Quốc ngữ, đây có thể được xem như bước ngoặt trong lịch sử văn học dân tộc. Thời kỳ trung đại, chữ Nôm để lại nhiều khó khăn, vất vả trong việc sử dụng bởi phải hiểu biết chữ Hán mới có thé dùng được chữ Nôm. Với chữ Quốc ngữ, văn học dân tộc thực hiện được sự thông nhất giữa tiếng và chữ, điều mà chữ Nôm vẫn chưa thể làm được. Các nhà truyền giáo đạo Thiên chúa giáo người Âu đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành chữ Quốc ngữ.
Những tầng lớp thị dân và trí thức đương thời (nho sĩ) không sẵn sàng đón nhận Thiên chúa giáo, cho nên việc truyền đạo hầu hết hướng về những người nghèo khổ, cùng đinh ở nông thôn. Nhưng vì giới bình dân hầu như không biết chữ Nho hay chữ Nôm nên các giáo sĩ buộc phải tìm ra một thứ chữ dé ghi lai và truyền bá những điều đã giảng dạy họ. Việc ghi âm tiếng Việt thành chữ viết theo chữ cái La tinh thành công khi chữ viết này được thông dụng 16 và trở thành chữ Quốc ngữ. Trong hơn hai thế kỷ đầu, chữ viết ghi theo chữ cái La tinh chỉ dùng dé in sách báo đạo và chi dùng trong giới theo đạo Thiên chúa.
Mục tiêu phố biến chữ Quốc ngữ có sự biến chuyền gan với chính trị khi thực dân Pháp xâm chiến Nam Bộ và thiếp lập bộ máy cai tri. Năm 1859, Pháp xâm chiếm vùng Bến Nghé (Gia Định). Do hoà ước 1862, triều đình Huế giao nhượng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp và đến năm 1867, Pháp chiếm tron Nam Ky lục tỉnh. Trong khi đó, triều Nguyễn đã không còn t6 chức khoa thi ở trường An Giang.
Quân xâm lược ở trong tình thế bị chống đối bởi giới sĩ phu yêu nước cũng như nhân dân. Ý định triệt tiêu ảnh hưởng của giới sĩ phu với nhân dân cùng với việc giới quan chức Pháp cho rằng chữ Hán khó học đã dẫn đến quyết định bãi bỏ chữ nho.