Đặt vấn đề: Việt Nam là một trong những nƣớc đang phát triển, trong những năm gần đây nguồn ngân sách đầu tƣ cho việc đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở, trƣờng học. cũng đang tăng lên rất nhanh. Cùng với nguồn vốn đầu tƣ rất lớn vào ngành Xây dựng, việc xây dựng các công trình đang phải đối mặt với hàng loạt các thách thức và khó khăn do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan gây ra. Việc xác định các nguyên nhân ảnh hƣởng đến tiến độ, chất lƣợng và chi phí xây dựng công trình là cần thiết để giúp chủ đầu tƣ, nhà thầu xây dựng.
hiểu đƣợc những hậu quả do các trục trặc đó gây ra và có phƣơng pháp hữu hiệu nhằm loại bỏ hoặc giảm thiểu tác động tiêu cực của chúng. Do vậy, nội dung nghiên cứu của đề tài nhằm xác định những khó khăn điển hình, thƣờng gặp trong việc triển khai đầu tƣ xây dựng công trình tại Việt Nam. Hiện tại trên thế giới cũng có một số nghiên cứu để lựa chọn nhà cung cấp vật tƣ cho công trình xây dựng sử dụng quy trình phân cấp thứ bậc AHP. Với các nƣớc đang phát triển có điều kiện gần giống Việt Nam, các phát sinh đƣợc nói đến nhiều nhất là việc chậm tiến độ và tăng chi phí xây dựng công trình.
Xung đột giữa các bên tham gia cung cấp vật tƣ trong quá trình đàm phán hợp đồng và giải ngân vốn cho công trình xây dựng. Ở Việt Nam cũng có một số nghiên cứu để lựa chọn nhà cung cấp vật tƣ (cốp pha, cốt thép và bê tông) cho công trình xây dựng sử dụng quy trình phân cấp thứ bậc AHP và thƣờng gặp, đề cập tới việc xung đột giữa chủ đầu tƣ, nhà thầu thi công dẫn đến việc công trình không hoàn thành đúng theo tiến độ, tăng chi phí chung và giảm chất lƣợng xây dựng. Những nghiên cứu này giúp cho tác giả có một cái nhìn tổng quát hơn về lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông cho công trình xây dựng trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam. An Giang trong thời gian tới, các công trình do Trung ƣơng đầu tƣ trên địa bàn tỉnh An Giang sẽ góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhƣ: Cầu Vàm Cống; cầu Châu Đốc; đƣờng tỉnh 957; một số dự án lớn mà nhà đầu tƣ đang triển 1 khai trên địa bàn tỉnh An Giang nhƣ nhà máy may mặc, sản xuất giày tại Bình Hòa; nhà máy chế biến rau quả Bình Long.
cùng với cơ sở hạ tầng từng bƣớc đƣợc xây dựng và hoàn thiện. Ngoài ra, Trung ƣơng còn tiếp tục ban hành các chính sách phát triển lĩnh vực công, nông nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tƣ vùng nông thôn; cơ chế liên kết vùng và hỗ trợ đầu tƣ phát triển các vùng kinh tế trọng điểm tiếp tục đổi mới và thuận lợi hơn. Đây là những điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển trong giai đoạn tới. Bên cạnh đó, An Giang còn là tỉnh nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, phía Đông giáp tỉnh Đồng Tháp, Đông Nam giáp Thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang và Tây Bắc giáp Campuchia.
Kinh tế tỉnh An Giang trong những năm qua phát triển khá nhanh, nhịp độ tăng trƣởng GDP bình quân hàng năm trong giai đoạn vừa qua gần 9,42%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hƣớng tăng nhanh khu vực thƣơng mại - dịch vụ và giảm dần khu vực nông nghiệp. An Giang cũng có nguồn tài nguyên khoáng sản đáng kể để sử dụng làm vật liệu xây dựng. Một số chủng loại VLXD sản xuất, khai thác, chế biến trên địa bàn tỉnh nhƣ: đá, cát xây dựng, gạch đất nung.1: Sản lƣợng các sản phẩm VLXD chủ yếu giai đoạn 2013 – 2015 và dự báo nhu cầu sử dụng đến năm 2020 Năm 2013 2014 2015 Nhu cầu 2020 Sản phẩm Xi măng Triệu tấn 0.800-1900 Gạch đất nung Tr.323 Gạch không nung Tr.5 Ngói nung Triệu viên 2.5 Tấm lợp kim loại Triệu m2 1.500 Gạch gốm ốp lát 1.300 2 Riêng đối với việc sản xuất thép sử dụng cho nhu cầu xây dụng trên địa bàn tỉnh hiện nay còn hạn chế và chƣa đƣợc địa phƣơng nghiên cứu, đầu tƣ. Toàn tỉnh hiện nay chỉ có 02 cơ sở luyện thép và sản xuất thép cuộn với khối lƣợng không đáng kể.
Đơn vị thi công ít đầu tƣ, đối với các loại vật tƣ, thiết bị, máy xây dựng đa số là do nhà thầu thi công mua, thuê khoán là chủ yếu (đầu tƣ mua sắm mới chiếm tỷ lệ từ 20% đến 30%) vì giá thành và chi phí bảo dƣỡng cao nên việc đầu tƣ mới là rất ít. Trong tƣơng lai, qua khảo sát các nhà thầu có quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh cho thấy có đến 70-80% số lƣợng máy xây dựng công trình đƣợc nhà thầu thi công tiếp tục sử dụng hình thức thuê khoán vì nó mang lại hiệu quả hơn hẳn so với hình thức đầu tƣ mua sắm mới. Thời gian gần đây, cùng với việc gia tăng quy mô đầu tƣ xây dựng công trình trên địa bàn tỉnh thì việc lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông cho công trình xây dựng vẫn chƣa đảm bảo về số lƣợng, chất lƣợng (mặc dù địa phƣơng đã tự cung cấp đƣợc một số loại vật tƣ cho công trình nhƣ nêu trên). Bên cạnh đó, quá thi công là giai đoạn dài nhất và rất nhạy cảm trƣớc các tác động của nguồn cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông xây dựng công trình vì sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình đầu tƣ xây dựng công trình.
Cụ thể một số ảnh hƣởng thƣờng gặp khi đầu tƣ xây dựng công trình tại địa phƣơng nhƣ việc chậm giao hàng do cự ly vận chuyển xa và địa hình phức tạp khi thi công trên cao (Trạm truyền tín hiệu Núi Cấm, Chùa Phật Lớn, Chùa Vạn Linh tại xã An Hảo, huyện Tịnh Biên) làm tăng chi phí vận chuyển lên 100%, thậm chí 120% so với giá thành; việc cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông chậm cũng ảnh hƣởng đến tiến độ thi công công trình (việc sử dụng vật liệu sai quy cách tại các công trình Nhà ở liền kề phƣờng Bình Khánh, Nhà máy tinh luyện dầu cá 100 tấn/1ngày xã Bình Thành, Trung tâm thƣơng mại huyện sử dụng các loại thép nhƣ: thép Ø10 gân có đƣờng kính chỉ 9,47mm, Ø12 gân có đƣờng kính chỉ 11,90mm; Ø16 gân có đƣờng kính chỉ 15,56mm, Ø18 gân có đƣờng kính chỉ 17,6mm và Ø20 gân có đƣờng kính chỉ 19,87mm là chƣa đảm bảo theo TCVN 1651-2:2008 nên đã ảnh hƣởng lớn đến chất lƣợng công trình; bên cạnh nguồn cát xây dựng (cát vàng Tân Châu dùng xây tô) có thành phần hạt chƣa đảm 3 bảo theo tiêu chuẩn sử dụng và nguồn cung cấp còn hạn chế nên địa phƣơng phải mua từ tỉnh khác hoặc thậm chí nhập khẩu từ nƣớc ngoài (tỉnh Đồng Tháp hoặc Campuchia) và ảnh hƣởng của sự biến động giá (cát, đá, xi măng, thép,…) đã tác động không nhỏ đến nền kinh tế của tỉnh, làm cho giá cả một số loại vật tƣ xây dựng biến động mạnh ảnh hƣởng đến chi phí đầu tƣ xây dựng công trình. Bên cạnh đó, trình độ quản lý nhân lực trong ngành xây dựng hiện nay cũng hạn chế, công tác quản lý chƣa chuyên nghiệp dẫn đến việc kiểm soát việc cung cấp vật tƣ còn nhiều bất cập và bị động. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự tồn tại trong quá trình thi công xây dựng. Các tồn tại này thƣờng gây ra những tổn thất nặng nề và phát sinh chi phí để khắc phục.
Để đối phó với các rủi ro thì các chủ đầu tƣ, nhà thầu thi công phải lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông cho công trình xây dựng. Một trong những nguyên nhân chính làm cho chi phí xây dựng công trình thƣờng xuyên phát sinh là do nhận thức của chủ đầu tƣ chƣa đầy đủ trong việc lựa chọn nhà cung cấp bê tông, cốt thép, cốt pha cho công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh An Giang. Sự thiếu thông tin và nhận thức kém của chủ đầu tƣ về chi phí cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông trong dự toán công trình xây dựng. Do đó, việc lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông cho công tình sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh An Giang là một trong những vấn đề quan trọng và có tính cấp thiết nhằm để tìm ra những giải pháp phù hợp làm hạn chế tối đa những phát sinh liên quan đến tiến độ, chất lƣợng và chi phí xây dựng công trình.2 Tính cấp thiết của đề tài: 1.1 Về mặt lý luận: Đề tài muốn khảo sát và tìm hiểu về nhận thức của chủ đầu tƣ, nhà thầu thi công và nhà cung cấp để đƣa ra những nhận định và phân tích chính xác khi lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông cho công trình xây dựng.
Măc dù, thời gian qua các đơn vị này thực hiện việc lựa chọn một cách nghiêm túc và đúng quy trình nhƣng chí phí phát sinh liên quan đến chi phí cốp pha, cốt thép và bê tông vẫn còn tồn tại khi triển khai thực hiện các dự án đầu tƣ xây dựng.2 Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu giúp các nhà quản lý trong thực hiện dự án đặc biệt là chủ đầu tƣ, nhà thầu thi công có cách nhìn nhận toàn diện hơn trong việc lựa chọn nguồn cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông cho công trình xây dựng nhằm hạn chế phát sinh chi phí trong quá trình thi công, ảnh hƣớng đến tổng mức đầu tƣ của dự án. Từ đó, đƣa ra các tiêu chí, yếu tố để lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông nhằm đạt đƣợc mục tiêu của dự án đề ra.3 Mục tiêu nghiên cứu: 1.1 Mục tiêu tổng quát: Kết quả của nghiên cứu là giúp chủ đầu tƣ, nhà thầu thi công lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông phù hợp với từng loại, cấp công trình xây dựng. Việc xác định dựa trên các tiêu chí, phƣơng pháp lựa chọn nhà cung cấp cốp pha, cốt thép và bê tông nhằm hạn chế việc phát sinh chi phí nhƣng phải đảm bảo chất lƣợng, tiến độ thi công xây dựng công trình.2 Mục tiêu cụ thể: Khảo sát các tiêu chí ảnh hƣởng đến việc lựa chọn cốp pha, cốt thép và bê tông xây dựng công trình của chủ đầu tƣ, nhà thầu thi công trƣớc và trong quá trình thi công xây dựng công trình.