Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LỢI NHUẬN VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH 1. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH Kể từ năm 1987, sau khi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên được thông qua đến nay, nước ta đã thu hút được một lượng đáng kể nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam. Và doanh nghiệp liên doanh là một trong những hình thức đầu tư trưc tiếp nước ngoài phổ biến nhất tính đến thời điểm này. Trong khuôn khổ đề khóa luận này, em xin chỉ đề cập đến dạng đầu tư trực tiếp này.
Doanh nghiệp liên doanh là một tổ chức kinh doanh quốc tế của các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ sở cùng góp vốn , cùng kinh doanh, nhằm thực hiện các cam kết trong hợp đông liên doanh và Điều lệ doanh nghiệp liên doanh, phù hợp với khuôn khổ luật pháp nước nhận đầu tư Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, doanh nghiệp liên doanh cũng có những đặc điểm riêng của nó - Về pháp lý: Doanh nghiệp liên doanh là một pháp nhân của nước nhận đầu tư, hoạt động theo luật pháp của nước nhận đầu tư. Hình thức của Doanh nghiệp liên doanh là do cỏc bờn tự thỏa thuận phù hợp với các quy định của luật pháp nước nhận đầu tư, như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các hiệp 12 hội góp vốn. Quyền lợi, nghĩa vụ cỏc bờn và quyền quản lý Doanh nghiệp liên doanh phục thuộc vào tỷ lệ góp vốn và được ghi trong hợp đồng liên doanh và Điều lệ của Doanh nghiệp liên doanh. - Về tổ chức: Hội đồng quản trị của doanh nghiệp là mô hình chung cho mọi Doanh nghiệp liên doanh không phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực, ngành nghề.
Đây là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Doanh nghiệp liên doanh. - Về kinh tế: Luụn cú sự gặp gỡ và phân chia lợi ích giữa các bên trong liên doanh và cả cỏc bờn đứng phía sau các liên doanh. Đây là vấn đề hết sức phức tạp. - Về điều hành sản xuất kinh doanh: Quyết định sản xuất kinh doanh dựa vào các quy đinh pháp lý của nước nhận đầu tư về việc vận dụng nguyên tắc nhất trí hay quá bán.
LỢI NHUẬN VÀ PHÂN PHỐI LỢI NHUẬN CỦA DOANH NGHIỆP LIÊN DOANH 1. Tổng quan về lợi nhuận của doanh nghiệp liên doanh 1. Khái niệm Lợi nhuận luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với các chủ thể kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hóa giá trị tài sản của mình. Từ những thời kỳ đầu của nền kinh tế hàng hóa, các nhà kinh tế đã nghiên cứu về lợi nhuận và cùng với sự phát triển của nền kinh tế đó, bản chất của lợi nhuận ngày càng được làm rõ thể hiện qua các khái niệm khác nhau về lợi nhuận.
Quan điểm của K. Marx đã nghiên cứu lợi nhuận dưới hình thái chung nhất của nó là giá trị thặng dư. Nguồn gốc của lợi nhuận cũng là nguồn gốc của giá trị thặng dư. Đó là lao động thặng dư.
Marx : “ Giá trị thặng dư hay cái phần trong giá trị toàn bộ của hàng hóa, trong đó lao động thặng dư hay lao động không được trả công của công nhõn đó được vật húa, thỡ tụi gọi là lợi nhuận”. Hoặc: “ Lợi nhuận là phần giá trị hàng hóa thừa ra so với chi phí của nhà tư bản”. Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại Các nhà kinh tế học hiện đại đã kế thừa và phát triển học thuyết của K. Marx, trên cơ sở đó, tìm hiểu ra cốt lõi bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận Lợi nhuận kinh tế: là lợi nhuận có tính đến chi phí cơ hội.
Chúng ta biết rằng, trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp luôn phải tiến hành lựa chọn giữa các dự án đầu tư do hạn chế về mặt tiềm lực tài chính hoặc do chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Việc lựa chọn dự án này bỏ qua dự án khác tương đương với việc doanh nghiệp đã bỏ qua khoản thu nhập do dự án không được chấp nhận đem lại. Và khoản thu nhập bị bỏ qua này được gọi là chi phí cơ hội của dự án. Lợi nhuận kế toán: là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí kế toán.
Trong đó, doanh thu và chi phí kế toán là những chỉ tiêu được phản ánh trên báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận kế toán thường cao hơn lợi nhuận kinh tế do không tính đến chi phí cơ hội Trong nền kinh tế mở, tác động của yếu tố lạm phát là rất lớn và không thể tránh khỏi. Vì vậy, căn cứ vào tác động của yếu tố này, lợi nhuận được chia thành lợi nhuận danh nghĩa và lợi nhuận thực tế. Trong đó, lợi nhuận thực tế được xác định trên cơ sở lợi nhuận danh nghĩa được điều chỉnh theo tỷ lệ lạm phát, ta có: 14 Lợi nhuận thực tế = Lợi nhuận ì ( 1 – Tỷ lệ lạm phát) danh nghĩa Lợi nhuận danh nghĩa: có thể là lợi nhuận kế toán hoặc lợi nhuận kinh tế.
Tuy nhiên, do bị điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát nên khi tỷ lệ lạm phát càng cao thì lợi nhuận thực tế càng thấp. Đõy chớnh là lý do tại sao khi nền kinh tế suy thoái tối đa hóa lợi nhuận không phải là quyết định tối ưu để tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Lúc đó, dù lợi nhuận cao song doanh nghiệp vẫn có thể bị phá sản. Như vậy, trờn cỏc góc độ khác nhau, ta sẽ cú cỏc cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm lợi nhuận.
Tuy nhiên, sự khác nhau này chỉ mang tính tương đối, các khái niệm lợi nhuận đưa ra không giống nhau nhưng có thể trùng nhau. Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có thể là lợi nhuận kế toán cũng có thể là lợi nhuận kinh tế. Từ góc độ tài chính doanh nghiệp, khái niệm lợi nhuận có thể được hiểu như sau: Lợi nhuận thực hiện trước thuế ( còn gọi là lợi nhuận kế toán) của doanh nghiệp là khoản chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được doanh thu đó từ các hoạt động của mình. Theo cách hiểu này, mỗi hoạt động của doanh nghiệp sẽ tạo ra một khoản lợi nhuận.
Bao gồm: Lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh Lợi nhuận từ hoạt động tài chính Thu nhập từ hoạt động bất thường 1. Vai trò của lợi nhuận 15 Trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào có sản xuất hàng hóa, lợi nhuận bao giờ cũng là mục tiêu, thước đo và động lực trực tiếp của mọi hoạt động kinh doanh. Các chế độ xã hội khác nhau, chỉ khác nhau về mục đích sử dụng lợi nhuận, phương pháp tạo ra lợi nhuận và phương thức phân phối lợi nhuận. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc theo đuổi lợi nhuận tối đa là mục đích quyết định và là động cơ chủ yếu quy định bản chất và chi phối lợi sự vận động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa.
Trong thời kỳ cạnh tranh tự do, các nhà kinh doanh đã tự thỏa mãn với lợi nhuõn bình quân ( lợi nhuận chung). Trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc, các tổ chức độc quyền định ra giá cả độc quyền, tăng cường bóc lột những người lao động ở nước mình và nhân dân các nước khác, đặc biệt là những nước chậm phát triển, chúng làm giàu nhờ những khoản cung cấp hàng quân sự, chiếm đoạt một phần lợi nhuận của các xí nghiệp không độc quyền trong cuộc cạnh tranh và kết quả là thu được lợi nhuận độc quyền. Từ góc độ doanh nghiệp, lợi nhuận có tầm quan trọng chiến lược, là mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp. Lợi nhuận là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu cuối cùng là: tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.
Lợi nhuận là nguồn để tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu. Tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu chính là việc làm gia tăng giá trị của khoản đầu tư mà chủ sở hữu đầu tư vào doanh nghiệp. Và lợi nhuận chính là nguồn lực chính, là bước đệm để thực hiện mục tiêu này. Lợi nhuận là mục tiêu giỳp cỏc nhà kinh doanh định hướng kinh doanh, xác định cơ cấu mặt hàng kinh doanh và lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả.
16 Lợi nhuận không những là mục tiêu trực tiếp của kinh doanh mà còn là thước đo phản ánh tổng hợp kết quả kinh doanh cả về số lượng lẫn chất lượng, nói lên thành tích và mức độ đóng góp của doanh nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân. Các kết quả đạt được ở từng khâu của hoạt động kinh doanh được biểu hiện ở từng chỉ tiêu cụ thể, cuối cùng đều được phản ánh với những hình thức và mức độ khác nhau trong chỉ tiêu lợi nhuận. Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh doanh bào giờ người ta cũng dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận, so sánh lợi nhuận đạt được với các nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như vật tư, lao động, tiền vốn vv. để biết được hiệu quả sử dụng các nhân tố đó.
Trong phân tích hoạt động kinh tế, trong điều kiện các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế kinh tế thị trường, muốn đánh giá thực chất đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người ta không thể căn cứ vào các kết quả trung gian mà phải căn cứ vào mục tiêu và kết quả cuối cùng của quá trình kinh doanh, nghĩa là phải dựa vào chỉ tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận còn là động lực kích thích mạnh mẽ của cách doanh nghiệp vì lợi ích vật chất mà đẩy mạnh kinh doanh, cải tiến công nghệ, đổi mới quản lý, tăng cường nghiên cứu, sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn vật tư, lao động, tiền vốn, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh. Lợi nhuận là một nhân tố thu hút vốn đầu tư. Trước khi quyết định đầu tư, các nhà đầu tư sẽ nghiên cứu xem xét rất kỹ tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là khả năng tài chính của doanh nghiệp đó.
Mà khả năng tài chính của doanh nghiệp được thể hiện trước hết ở mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy doanh nghiệp có lợi nhuận cao, tăng trưởng đều đặn qua các chu kỳ kinh doanh sẽ thu hút được các nhà đầu tư. 17 Lợi nhuận là nguồn quan trọng tài trợ cho một số hoạt động của doanh nghiệp.