Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp thuộc chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp, Khoa Quản trị doanh nghiệp, Trường Đại học Thương Mại, do sinh viên Vũ Văn Duy thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Hữu Đức (hoàn thành tháng 11 năm 2013). Đề tài tập trung vào công tác quản trị rủi ro (QTRR) trong mảng bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm Dầu khí Đông Đô (PVI Đông Đô).

Về bối cảnh thực tiễn, thị trường bảo hiểm thương mại Việt Nam có sự phát triển liên tục kể từ khi Nghị định 100/CP ngày 18/02/1993 được ban hành, với tốc độ tăng trưởng bình quân doanh thu phí giai đoạn 1993–2004 đạt khoảng 29%/năm, tỷ trọng doanh thu phí trên GDP tăng từ 0,37% (năm 1993) lên 1,8% (năm 2004). Năm 2008, doanh thu toàn ngành đạt 27.000 tỷ đồng (chiếm 2,22% GDP), trong đó mảng phi nhân thọ đạt 10.855 tỷ đồng. Khi Việt Nam gia nhập WTO và triển khai Nghị định số 103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, thị trường có sự tham gia của hơn 30 doanh nghiệp phi nhân thọ, khiến mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Đồng thời, đặc thù hạ tầng giao thông thấp, ý thức chấp hành luật chưa cao (riêng 6 tháng đầu năm 2013 cả nước xảy ra 2.394 vụ tai nạn giao thông đường bộ) tạo ra áp lực chi trả bồi thường và rủi ro trục lợi rất lớn cho các doanh nghiệp bảo hiểm.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của hoạt động quản trị rủi ro trong doanh nghiệp.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro trong hoạt động bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô.
  3. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong hoạt động bảo hiểm xe cơ giới tại PVI Đông Đô.

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng:

  • Về mặt không gian: Hoạt động quản trị rủi ro trong bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô (địa chỉ: Tầng 7 & 8, số 52 Bà Triệu, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
  • Về mặt thời gian: Tập trung nghiên cứu số liệu hoạt động trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2013 (thời điểm PVI hoàn thành tái cấu trúc).
  • Về mặt nội dung: Đi sâu vào thực trạng nhận dạng, phân tích, kiểm soát và tài trợ rủi ro trong nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới của doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý thuyết quản trị rủi ro doanh nghiệp và quản trị rủi ro tài chính (tham chiếu công trình của TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang, 2007). Tác giả tiếp cận rủi ro theo quan điểm: rủi ro là khả năng xảy ra sự kiện ngoại ý tác động lên nguồn lực của doanh nghiệp gây ra những tổn thất hiện tại cũng như trong tương lai. Hệ thống lý thuyết phân định các loại rủi ro chính trong doanh nghiệp (rủi ro chiến lược, rủi ro tài chính gồm lãi suất, tỷ giá, giá cả, tín dụng, dòng tiền, và rủi ro hoạt động).

Quy trình quản trị rủi ro chuẩn gồm 4 bước nối tiếp:

  1. Nhận diện rủi ro (xác định mối hiểm họa, mối nguy hiểm, nguy cơ rủi ro về tài sản, pháp lý, nguồn lực).
  2. Phân tích và đo lường rủi ro (đánh giá ma trận tần số xuất hiện và biên độ tổn thất theo 4 nhóm).
  3. Kiểm soát rủi ro (né tránh, ngăn ngừa, giảm thiểu, chuyển giao rủi ro).
  4. Tài trợ rủi ro (tự tài trợ, chuyển giao qua bảo hiểm/phi bảo hiểm với 3 kỹ thuật phân bổ nguồn lực).

Khung pháp lý được tác giả viện dẫn gồm: Nghị định 100/CP, Nghị định 103/2008/NĐ-CP, Quyết định số 23/2003/QĐ-BTC và Thông tư số 126/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm xe cơ giới.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp giữa phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:

  • Dữ liệu sơ cấp: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi gửi trực tiếp tới 30 cán bộ chuyên viên có kinh nghiệm nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới tại PVI Đông Đô, thu về 30/30 phiếu hợp lệ (tỷ lệ 100%). Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu 3 cán bộ quản lý: Ông Nguyễn Hùng Cường (Trưởng phòng BH Xe cơ giới và Quản lý đại lý), Ông Đỗ Minh Hiệu (Trưởng phòng Giám định bồi thường) và Bà Bùi Thị Lan Phương (Trưởng phòng BH Xe cơ giới và Con người).
  • Dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ báo cáo kết quả kinh doanh, số liệu chi trả bồi thường hàng tháng của PVI Đông Đô, cổng thông tin điện tử của doanh nghiệp và các website chuyên ngành bảo hiểm.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp, so sánh và phân tích tỷ trọng số liệu nhằm xác định tần suất và mức độ ảnh hưởng của từng loại rủi ro.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về công tác QTRR trong doanh nghiệp

Chương này khái quát các khái niệm về rủi ro, rủi ro kinh doanh và quản trị rủi ro; phân tích vai trò của quản trị rủi ro trong việc bảo toàn vốn, tối ưu hóa lá chắn thuế, giảm chi phí phá sản và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tác giả làm rõ các nguyên tắc cốt lõi: QTRR phải hướng vào mục tiêu (phòng ngừa và khắc phục), gắn liền với trách nhiệm của nhà quản trị và gắn kết chặt chẽ với cơ cấu tổ chức bộ máy.

Nội dung trọng tâm của chương là chuẩn hóa quy trình 4 bước quản trị rủi ro và nhận định các nhân tố ảnh hưởng. Trong đó, nhân tố khách quan bao gồm môi trường pháp lý - chính trị và áp lực cạnh tranh từ các đối thủ; nhân tố chủ quan bao gồm quy mô, hình thức tổ chức công ty cổ phần và nhận thức của ban lãnh đạo doanh nghiệp.

Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác QTRR trong bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô

Tác giả giới thiệu cơ cấu tổ chức của PVI Đông Đô (gồm Ban Giám đốc do ông Lại Trung Kiên làm Tổng Giám đốc, 3 Phó Tổng Giám đốc và 16 phòng ban chức năng). Cơ cấu lao động toàn hệ thống PVI năm 2012 là 1.521 người; riêng cơ cấu lao động tại đơn vị phân bổ theo bảng số liệu:

Phân loại theo trình độ Số lượng Phân loại theo hợp đồng Số lượng
Trên đại học 26 Hợp đồng không xác định thời hạn 229
Đại học 380 Hợp đồng có thời hạn 1–3 năm 196
Trung cấp 35 Hợp đồng có thời hạn dưới 1 năm 58
Lái xe, lao động phổ thông 42

Kết quả kinh doanh toàn hệ thống ghi nhận năm 2011 đạt tổng doanh thu 5.655 tỷ đồng (lợi nhuận trước thuế 468 tỷ đồng); năm 2012 doanh thu đạt hơn 6.200 tỷ đồng (doanh thu bảo hiểm gốc 4.659 tỷ đồng, lợi nhuận 549 tỷ đồng); 6 tháng đầu năm 2013 đạt doanh thu 3.526 tỷ đồng.

Về thực trạng nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, công ty cung cấp 5 hình thức: (1) BH trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ xe đối với hành khách; (2) BH TNDS đối với hàng hóa; (3) BH thiệt hại vật chất xe; (4) BH tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe; (5) BH bắt buộc TNDS của chủ xe cơ giới (kèm gói tự nguyện mở rộng tới 20.000 USD/người/vụ về người và 100.000 USD/vụ về tài sản).

Tác giả phân tích chi tiết 4 rủi ro điển hình trong thực tế kinh doanh:

  1. Rủi ro chi phí bồi thường: Mức phí thấp nhưng trách nhiệm bồi thường cao theo quy định Nhà nước (xe máy phí 60.000 đồng, trách nhiệm 50 triệu đồng/vụ; ô tô phí TNDS từ 397.000 đồng, trách nhiệm 70 triệu đồng/vụ; bảo hiểm vật chất xe tỷ lệ phí 1,3%–2,0%). Số liệu chi bồi thường xe cơ giới tại PVI liên tục ở mức rất cao: năm 2010 doanh thu phí đạt 628 tỷ đồng, số tiền bồi thường là 5.705,9 tỷ đồng (văn bản ghi nhận tỷ lệ bồi thường chiếm 112,4% doanh thu); năm 2011 thu phí 573 tỷ đồng, bồi thường 580 tỷ đồng (chiếm 101,2%); năm 2012 thu phí 508 tỷ đồng, bồi thường 517,7 tỷ đồng (chiếm 102%).
  2. Rủi ro mất giấy chứng nhận bảo hiểm (ấn chỉ): Do phát hành hàng nghìn ấn chỉ mỗi tháng, nguy cơ thất lạc bán phá giá gây lũng đoạn; PVI áp dụng chế tài đền bù 350.000 đồng/quyển ấn chỉ xe máy và 2.000.000 đồng/quyển ấn chỉ ô tô.
  3. Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh: Cạnh tranh thị phần gay gắt từ PTI (tăng trưởng 20%, chiếm gần 12% thị phần xe cơ giới quý II/2013), Bảo Minh (tăng trưởng trên 10%), Bảo Việt và Liberty (tăng trưởng 10,6%, dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7 với trên 75% khách hàng sẵn sàng giới thiệu).
  4. Rủi ro trục lợi bảo hiểm: Gồm cả trục lợi cứng và trục lợi mềm. Đơn vị đã phát hiện 7 vụ việc trục lợi, tiêu biểu như vụ xe biển số 30U-0011 tạo hiện trường giả tại Yên Bái và vụ xe tải Huyndai lật tại Lai Châu ngày 28/4/2012 nộp phí trước tai nạn 2 giờ để hợp thức hóa hồ sơ.

Kết quả điều tra khảo sát 30 cán bộ chuyên viên (Bảng 3 trong văn bản) phản ánh mức độ tác động của các nhóm rủi ro:

Loại rủi ro Ảnh hưởng rất nhiều (Số phiếu / %) Trung bình (Số phiếu / %) Ít ảnh hưởng (Số phiếu / %)
Mất giấy chứng nhận bảo hiểm 8 (23,33%) 14 (46,67%) 8 (30,00%)
Do phí bồi thường 11 (36,67%) 9 (30,00%) 10 (33,33%)
Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh 15 (50,00%) 10 (33,33%) 5 (16,67%)
Trục lợi bảo hiểm 12 (40,00%) 10 (33,33%) 8 (26,67%)

Về kiểm soát và tài trợ rủi ro, PVI siết chặt quy trình 7 loại chứng từ bồi thường, liên kết với các xưởng sửa chữa (Ford Thăng Long, Ford An Đô, Nissan Long Biên). Quỹ dự phòng bảo hiểm xe cơ giới tăng dần qua các năm: 300 tỷ đồng (năm 2010), 378 tỷ đồng (năm 2011), 480 tỷ đồng (năm 2012) và 500 tỷ đồng (năm 2013).

Đánh giá chung cho thấy ưu điểm là phân công giám định rõ ràng, kiểm soát ấn chỉ tương đối tốt; tuy nhiên tồn tại hạn chế lớn là chưa có phòng/bộ phận chuyên trách QTRR độc lập, các phòng ban chạy theo chỉ tiêu doanh thu độc lập dẫn đến bỏ qua quy trình chuẩn, năng lực giám định hình ảnh ban đầu còn sơ hở và việc quản lý đại lý tự do chưa chặt chẽ.

Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác QTRR trong bảo hiểm xe cơ giới tại công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô

Chương này đưa ra phương hướng hoạt động theo kế hoạch kinh doanh nhận tái bảo hiểm giai đoạn 2013–2015 của PVI (mảng xe cơ giới dự kiến đạt 688 tỷ đồng năm 2013, 743 tỷ đồng năm 2014 và 780 tỷ đồng năm 2015). Công ty chú trọng đào tạo nhân sự (tháng 7/2013 đã tổ chức khóa đào tạo QTRR 2 tuần cho 16 nhân viên nòng cốt).

Các nhóm giải pháp được đề xuất bao gồm:

  • Hoàn thiện 4 nội dung QTRR nghiệp vụ: Nâng cao năng lực nhận dạng nguồn gốc rủi ro; phân tích chi tiết chi phí bồi thường và thủ đoạn trục lợi; kiểm soát chặt quy trình ký kết và giám định hiện trường; tối ưu hóa quy mô quỹ dự phòng tài trợ rủi ro.
  • Thiết lập cơ chế kiểm soát hợp đồng: Áp dụng quy định bắt buộc hợp đồng trước khi đóng dấu phải có chữ ký nháy của lãnh đạo Phòng Quản lý nghiệp vụ và Trưởng phòng Kinh doanh nhằm triệt tiêu sai phạm cá nhân.
  • Hoàn thiện tổ chức và nhân sự: Thành lập phòng chuyên trách về quản trị rủi ro; luân chuyển cán bộ đã qua đào tạo QTRR vào bộ phận chuyên trách; gắn chỉ tiêu kiểm soát ISO và trách nhiệm vật chất cá nhân vào từng chuyên viên kinh doanh.
  • Kiến nghị bổ trợ: Đẩy mạnh công tác nghiên cứu đối thủ cạnh tranh, điều tra kỹ đối tác và đại lý phân phối.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể gắn liền với số liệu thực tế tại đơn vị:

  • Đã lượng hóa được thực trạng mất cân đối giữa chi phí bồi thường và doanh thu phí bảo hiểm xe cơ giới tại PVI Đông Đô qua các năm (tỷ lệ bồi thường luôn vượt 100% doanh thu phí: 112,4% năm 2010; 101,2% năm 2011; 102% năm 2012).
  • Xác định thứ tự ưu tiên của các rủi ro qua khảo sát thực nghiệm 30 chuyên viên: rủi ro từ đối thủ cạnh tranh đứng đầu (50% đánh giá ảnh hưởng rất nhiều), tiếp đến là trục lợi bảo hiểm (40%) và rủi ro chi phí bồi thường (36,67%).
  • Ghi nhận diễn biến quy mô Quỹ dự phòng xe cơ giới được bổ sung hàng năm (đạt 500 tỷ đồng năm 2013) nhằm đáp ứng quy định tăng mức trách nhiệm bồi thường của Bộ Tài chính.
  • Đóng góp tự nêu của đề tài là đã hệ thống hóa và đề xuất mô hình kiểm soát rủi ro thực tế cho PVI Đông Đô giai đoạn hậu tái cấu trúc; đưa ra giải pháp thành lập phòng QTRR chuyên trách và cơ chế ký duyệt kép giúp khắc phục triệt để tình trạng buông lỏng quản lý do áp lực doanh số tại các phòng kinh doanh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn dựa trên phạm vi nghiên cứu được công bố trong văn bản:

  • Phạm vi không gian và dữ liệu thực nghiệm chỉ giới hạn tại một đơn vị thành viên là Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô, chưa mở rộng đối sánh với các chi nhánh khác trong Tổng công ty PVI.
  • Mẫu khảo sát sơ cấp có quy mô tương đối nhỏ ($n = 30$ chuyên viên nghiệp vụ), chủ yếu phản ánh ý kiến chuyên gia nội bộ.
  • Đề tài tập trung chuyên biệt vào nghiệp vụ xe cơ giới trong giai đoạn 2011–2013; chưa mở rộng phân tích các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ thế mạnh khác của PVI như bảo hiểm năng lượng, bảo hiểm hàng hải hay bảo hiểm xây dựng lắp đặt.

Hướng phát triển tiếp theo có thể mở rộng khảo sát trên quy mô toàn hệ thống PVI hoặc nghiên cứu mô hình quản trị rủi ro tích hợp cho toàn bộ danh mục sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị doanh nghiệp, Bảo hiểm và Tài chính doanh nghiệp đang nghiên cứu về quản trị rủi ro hoạt động và quản trị rủi ro tài chính trong ngành dịch vụ tài chính.
  • Cán bộ quản lý, chuyên viên giám định bồi thường và khai thác bảo hiểm tại các công ty bảo hiểm phi nhân thọ tham khảo quy trình nhận diện trục lợi bảo hiểm, kinh nghiệm xử lý tranh chấp hồ sơ hiện trường và phương thức xây dựng quỹ dự phòng tài chính nghiệp vụ xe cơ giới.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ chi trả bồi thường so với doanh thu phí bảo hiểm xe cơ giới tại PVI diễn biến như thế nào trong giai đoạn 2010–2012?
Theo số liệu thống kê trong văn bản, tỷ lệ bồi thường xe cơ giới luôn vượt mức 100% doanh thu phí thu được: năm 2010 đạt 112,4% (phí thu 628 tỷ đồng, bồi thường 5.705,9 tỷ đồng); năm 2011 chiếm 101,2% (phí thu 573 tỷ đồng, bồi thường 580 tỷ đồng); năm 2012 chiếm 102% (phí thu 508 tỷ đồng, bồi thường 517,7 tỷ đồng).

2. Kết quả khảo sát 30 cán bộ chuyên viên chỉ ra loại rủi ro nào ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm xe cơ giới?
Rủi ro từ đối thủ cạnh tranh được đánh giá có mức độ ảnh hưởng lớn nhất với 15/30 phiếu (50% lựa chọn "ảnh hưởng rất nhiều"). Đứng thứ hai là rủi ro trục lợi bảo hiểm với 12/30 phiếu (40%), thứ ba là rủi ro chi phí bồi thường với 11/30 phiếu (36,67%), và thấp nhất là rủi ro mất ấn chỉ bảo hiểm với 8/30 phiếu (23,33%).

3. Quy mô Quỹ dự phòng cho bảo hiểm xe cơ giới của PVI được trích lập thay đổi ra sao từ năm 2010 đến năm 2013?
Quỹ dự phòng được tăng liên tục qua các năm: năm 2010 đạt 300 tỷ đồng; năm 2011 tăng lên 378 tỷ đồng; năm 2012 nâng lên 480 tỷ đồng (do Bộ Tài chính tăng mức trách nhiệm bồi thường tối thiểu của ô tô lên 70 triệu đồng/vụ và xe máy lên 50 triệu đồng/vụ); năm 2013 quỹ đạt mức 500 tỷ đồng.

4. Khóa luận đã nêu những vụ việc trục lợi bảo hiểm cụ thể nào từng xảy ra tại đơn vị?
Văn bản nêu 2 vụ việc điển hình: Vụ xe ô tô biển số 30U-0011 gặp tai nạn trước rồi mới mua bảo hiểm, sau đó 2 tháng dựng hiện trường giả tại Yên Bái (do một cán bộ CSGT chủ mưu); Vụ xe tải Huyndai tại Lai Châu bị lật lúc 16h ngày 28/4/2012 nhưng thực tế khách hàng mới nộp phí bảo hiểm lúc 14h cùng ngày (trước tai nạn 2 tiếng) và sau đó PVI đã từ chối bồi thường thành công.

5. Tác giả đề xuất giải pháp kiểm soát hợp đồng và cơ cấu nhân sự như thế nào để giảm thiểu rủi ro?
Tác giả đề xuất thành lập phòng chuyên trách về quản trị rủi ro độc lập, đồng thời áp dụng quy định bắt buộc: mọi hợp đồng bảo hiểm xe cơ giới trước khi đóng dấu phải có chữ ký nháy của lãnh đạo Phòng Quản lý nghiệp vụ và Trưởng phòng Kinh doanh, kết hợp gắn trách nhiệm bồi thường cá nhân nếu chuyên viên để xảy ra sai phạm hoặc tiếp tay cho trục lợi.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Vũ Văn Duy đã phân tích toàn diện thực trạng quản trị rủi ro trong mảng bảo hiểm xe cơ giới tại Công ty Bảo hiểm PVI Đông Đô giai đoạn 2011–2013. Bằng phương pháp khảo sát 30 chuyên viên và phỏng vấn cán bộ quản lý, tác giả đã làm rõ các điểm nghẽn về chi phí bồi thường vượt thu phí, nguy cơ trục lợi bảo hiểm và áp lực cạnh tranh gay gắt. Các giải pháp thành lập phòng QTRR chuyên trách, chuẩn hóa quy trình ký duyệt kép và siết chặt giám định bồi thường mang tính thực tiễn cao đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.