CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG LIỆU PHÁP NHẬN THỨC CHO MỘT CA TRẦM CẢM Ở NGƯỜI LỚN 1. Tổng quan về rối loạn trầm cảm 1. Điểm luận một số nghiên cứu về trầm cảm Kết quả nghiên cứu dịch tễ học ở mười quốc gia: Nhật, Hoa kỳ, Canada, Chile, Séc, Đức, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico cho thấy, tỷ lệ dân số mắc trầm cảm từ 8 – 12%, trong đó, Hoa kỳ có tỷ lệ dân số mắc trầm cảm cao nhất (17%), thấp nhất là Nhật Bản (3%) dẫn theo Bùi Quang Huy và cs, 2016. Rối loạn trầm cảm chiếm 10% trong tổng số bệnh nhân đi khám bệnh và chiếm 15% tổng số các bệnh nhân phải nằm điều trị (Sadock, 2007).
Một nghiên cứu khác về rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành xã Chiềng Đen thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, do nhóm nghiên cứu Trần Quỳnh Anh, Tạ Đình Cao và Cao Văn Tuân ( 2017) thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm ở người trưởng thành tại xã Chiềng Đen,tỉnh Sơn La và một số yếu tố liên quan đến rối loạn trầm cảm. Nghiên cứu trải qua hai bước, bước một nhóm nghiên cứu sàng lọc những trường hợp nghi ngờ, được thực hiện trên 3675 người trưởng thành trên toàn xã. Bước 2 khám và chẩn đoán rối loạn trầm cảm cho các trường hợp nghi ngờ trầm cảm, đồng thời phỏng vấn bằng bộ câu hỏi.
Trong số bệnh nhân mắc rối loạn trầm cảm, khoảng ¾ ở thể trầm cảm vừa và không có ca trầm cảm nặng. Các yếu tố liên quan đến trầm cảm ở người trưởng thành gồm nhóm yếu tố liên quan đến người thân, vợ, chồng, con đi làm ăn xa nhà; bất hòa với người thân; nhóm yếu tố liên quan đến lối sống cá nhân, có uống rượu và hút thuốc lá; có mâu thuẫn kéo dài tại nơi ở. Kết quả cho thấy trong số 3675 người được khám sàng lọc, tỷ lệ nam là 53% và nữ là 47%; trong đó có 46,7% ở độ tuổi từ 18 – 39. Sau khám sàng lọc, phát hiện 452 người nghi ngờ mắc trầm cảm.
Trong con số này 330 là nữ, 363 là nông dân, nhóm tuổi gặp nhiều nhất là 50-59 (124), tiếp theo là nhóm tuổi 40-49 (94); tất cả là người dân tộc Thái, 50,3% học hết tiểu học;; 90,2% đã kết hôn; 83,4% thuộc nhóm hộ có thu nhập trung bình trong xã. Nghiên cứu đã dừng lại ở việc sàng lọc con số thực trạng bị trầm cảm và các yếu tố liên quan tới vấn đề trầm cảm. Trong đó 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho thấy con số người trải qua trầm cảm ở nữ cao hơn nam, tập trung trong nhóm tuổi từ 50-59 tuổi. Nghiên cứu về đặc điểm nhân cách và trầm cảm ở sinh viên được thực hiện trên 492 sinh viên tại Trường Đại học Y Hà Nội do nhóm nghiên cứu Trần Thơ Nhị và cộng sự năm 2016-2017.
Nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi có sẵn, được xây dựng dựa trên thang điểm đánh giá trầm cảm ở thanh thiếu niên RADS (Thang đánh giá trầm cảm ở thanh thiếu niên) và bảng kiểm kê nhân cách của Hans Eysenck. Nhóm khách thể nghiên cứu có đặc điểm nhân cách, tỷ lệ sinh viên có kiểu nhân cách hướng nội cao nhất (61,99%), kiểu nhân cách thần kinh không ổn định là 68,90% còn lại là các kiểu khí chất khác. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm chung của sinh viên năm hai hệ Bác sỹ Trường Đại học Y Hà Nội là 28,46% trong đó bao gồm tỷ lệ sinh viên bị trầm cảm nhẹ là 20,12%, trầm cảm vừa và nặng lần lượt là 4,88% và 3,46%. Những sinh viên có kiểu khí chất ưu tư, nóng nảy thì nguy cơ bị trầm cảm cao gấp từ 6 đến 8 lần so với sinh viên có kiểu khí chất linh hoạt và bình thản.
Nhóm nghiên cứu đã tập trung vào điều tra thực trạng số sinh viên bị trầm cảm và mối liên quan của kiểu khí chất (Hoạt bát, ưu tư, bình thản, nóng nảy) kiểu nhân cách (hướng nội, hướng ngoại) và kiểu hình thần kinh (ổn định, không ổn định). Trong số sinh viên trầm cảm cho thấy kiểu khí chất ưu tư, kiểu nhân cách hướng nội và kiểu nhân cách thần kinh không ổn định có chỉ số sinh viên bị trầm cảm cao hơn các yếu tố còn lại. Một nghiên cứu khác về Thực trạng trầm cảm và một số yếu tố nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn năm 2011 và đề xuất một số giải pháp. Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng trầm cảm của người trưởng thành; xác định một số yếu tố nguy cơ đến tình trạng trầm cảm của người trưởng thành; đề xuất một số phương pháp can thiệp, phòng chống trầm cảm tại cộng đồng.
Số lượng mẫu nghiên cứu là 4451 người trưởng thành nằm trong độ tuổi từ 18 tuổi trở lên. Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tháng 12 năm 2011. Phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua các biến số mức thu nhập bình quân tính theo đầu người trên địa bàn nghiên cứu, trình độ học vấn, nghề nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc trầm cảm ở người trưởng thành theo giới tính tại phường Sông Cầu là 4,3%, nam 1,6%, nữ 8,3% gấp 5 lần nam giới; tỷ lệ mắc trầm cảm theo tình trạng hôn nhân cao nhất ở nhóm có vợ/chồng ly dị/ly thân 21,1%, tiếp đến là nhóm góa vợ/chồng chiếm 10,5% tỷ lệ mắc trầm cảm; ở nhóm trình độ học vấn tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm có trình độ phổ thông trung học chiếm 5,6%; đối với yếu tố nghề nghiệp, nhóm không nghề nghiệp có tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất chiếm 18,1%; ở nhóm thu nhập gia đình, tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm người thu nhập thấp chiếm 8,9%.
(Trần Quỳnh Anh và cs, 2017) Nghiên cứu đã tập trung vào điều tra thực trạng tỷ lệ trầm cảm có mối liên hệ với các nhóm có yếu tố nguy cơ trầm cảm như phụ nữ, gia đình có ly hôn hoặc ly thân, áp lực kinh tế, nghề nghiệp. Tiểu kết 1: Thông qua tổng quan tài liệu về các nghiên cứu đối với rối loạn trầm cảm, nhận thấy ở Việt Nam các nghiên cứu dừng lại ở việc điều tra thực trạng rối loạn trầm cảm ở các lứa tuổi khác nhauchưa có nghiên cứu mang tính chất ứng dụng các liệu pháp trên thân chủ có rối loạn trầm cảm. Trong các nghiên cứu có sử dụng một số các thang đo mang tính sàng lọc về rối loạn trầm cảm, mà chưa đi sâu vào phân tích, hay sử dụng các phương pháp khác ví dụ như quan sát, hay hỏi chuyện lâm sàng hoặc các thang đo khác nhau nhằm nâng cao tính tin cậy và chính xác. Hơn nữa, các nghiên cứu này thực hiện trên một số lượng khách thể nghiên cứu rất lớn, đại trà, sẽ có sự khác biệt lớn với nghiên cứu sẽ được đề cập trong bài báo cáo luận văn dưới đây, với đặc trưng về tính cụ thể, tập trung vào một trường hợp điển hình có rối loạn trầm cảm.
Các nghiên cứu về áp dụng liệu pháp nhận thức trong can thiệp trầm cảm ở người lớn Một nghiên cứu được thực hiện tại Viện sức khỏe tâm thần Quốc gia (NIMH) Hoa Kỳ về liệu pháp nhận thức cho bệnh nhân trầm cảm với số mẫu nghiên 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cứu là 239 khách thể. Nghiên cứu so sánh giữa phương pháp điều trị sử dụng thuốc chống trầm cảm (ADM), quản lý lâm sàng có cấu trúc (CM), giả dược, nhận thức (CT) và trị liệu liên cá nhân (IPT). Kết quả nghiên cứu cho thấy CT phù hợp với rối loạn trầm cảm chủ yếu từ nhẹ đến trung bình, đối với trầm cảm nặng chưa đạt được hiệu quả tối ưu. Đối với trầm cảm nặng yếu tố kết hợp giữa các liệu pháp khác nhau cho kết quả tích cực hơn.
Những người có rối loạn trầm cảm từ nhẹ hoặc trung bình có đáp ứng tốt với CT kéo dài 8 hoặc 16 phiên trị liệu, tỷ lệ đáp ứng từ 50 – 53%, đối với trầm cảm nặng đáp ứng 50% với 16 phiên, 35% đối với 8 phiên trị liệu. Sau 12 tháng theo dõi tỷ lệ tái phát trầm cảm đối với CT là 9%, bằng một phần ba so với CM, ADM 28%. Hơn nữa trong số những bệnh nhân đã hồi phục trong giai đoạn điều trị của nghiên cứu, chỉ có 5% đối tượng CT tìm cách điều trị thêm, so với IPT (38%) và ADM (39%) (Jan Scott, 2001). Một nghiên cứu khác về tác dụng của liệu pháp nhận thức so với các điều trị thông thường ở bệnh nhân rối loạn trầm cảm nặng.
Nghiên cứu đã thống kê trên 719 khách thể trên 17 tuổi. Nghiên cứu đã chia ra làm tám thử nghiệm, mỗi thử nghiệm sẽ bao gồm phương pháp nhận thức và một phương pháp khác. Trong đó có bốn thử nghiệm sau khi điều trị xong sẽ được sử dụng thang đo kiểm kê trầm cảm Beck (BDI-II), bốn thử nghiệm còn lại sẽ được đối chiếu hiệu quả điều trị với thang đo trầm cảm Hamilton (HDRS). Kết quả cho thấy liệu pháp nhận thức so với chăm sóc cộng đồng đã làm suy giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm.
Trong đó thử nghiệm làm suy giảm các triệu chứng trầm cảm là sự kết hợp giữa liệu pháp nhận thức và kết hợp dùng thuốc chống trầm cảm. Nghiên cứu đã thừa nhận hạn chế ở điểm chỉ sử dụng thang đo để đối chiếu hiệu quả của phương pháp là chưa đầy đủ. Ngoài ra thời gian theo dõi ngắn chỉ trong vòng 6-12 tháng, cần thêm các thống kê về nguy cơ tự tử, số vụ tự tử và nội dung cụ thể của các phương pháp điều trị thông thường khác. (Janus Christian Jakobsen et al, 2011) Nghiên cứu về hiệu quả lâm sàng của liệu pháp nhận thức (CT) và phương pháp trị liệu liên cá nhân (IPT) đối với rối loạn trầm cảm.
Nghiên cứu nhằm mục đích kiểm tra tính hiệu quả của hai phương pháp trên mẫu bệnh nhân tại một phòng khám sức khỏe tâm thần ngoại trú của Hà Lan. Số khách thể được chọn lựa ngẫu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiên, trong đó có 76 khách thể được sử dụng liệu pháp nhận thức, 75 khách thể được sử dụng phương pháp trị liệu liên cá nhân. Với mức độ trầm cảm sẽ được đo bằng bản kiểm kê trầm cảm Beck II (BDI – II) được đánh giá ở mức cơ bản sau 2,3 và 7 tháng trong giai đoạn điều trị và theo dõi trong vòng năm tháng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả trị liệu giữa CT và IPT không khác nhau.