phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm có 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở l luận về liên kết đào tạo nghề giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng liên kết đào tạo nghề trình độ sơ cấp giữa cơ sở dạy nghề và các doanh nghiệp Tỉnh Bình Dƣơng Chƣơng 3: Đề xuất quy trình liên kết đào tạo nghề trình độ sơ cấp giữa cơ sở dạy nghề Đại Việt Phát và các doanh nghiệp Tỉnh Bình Dƣơng 5 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ L LUẬN VỀ LI N KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA CƠ SỞ DẠY NGHỀ VÀ DOANH NGHIỆP 1. T ng uan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Thế kỷ XXI đƣợc coi nhƣ thế kỷ c a công nghệ, c a tri thức. Nguồn nhân lực chất lƣợng cao trở thành nguồn vốn, nguồn sức mạnh c a mọi quốc gia trên thế giới.
Với mục tiêu thiết thực, hiệu quả, LKĐT giữa CSDN và DN mau chóng thu hút sự chú ý c a giới nghiên cứu và đƣợc xác định là bƣớc đột phá” trong chiến lƣợc phát triển nhân lực chất lƣợng cao. Ngay từ những năm 60 c a thế kỷ XX, ở các nƣớc tƣ bản phát triển nhƣ Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề LKĐT giữa các CSDN và DN nhằm đáp ứng yêu cầu c a xã hội công nghiệp. Điển hình nhƣ: George Psacharopoulos [32], với công trình nghiên cứu Vocational Education and Training Today: Challeges and Responses” – (Giáo dục và dạy nghề ngày nay: Thách thức và sự ứng phó , đã đƣa ra các giải pháp phát triển đào tạo nghề. Theo tác giả, đào tạo nghề có vai trò rất quan trọng trong các vấn đề về giải quyết thất nghiệp cho thanh niên; Giải quyết việc thiếu kỹ thuật viên trung cấp cho các DN đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa; truyền bá tri thức công nghệ đồng thời đây cũng là con đƣờng cho những HS không muốn tiếp tục học văn hóa theo đƣờng chính quy truyền thống.
Tác giả cũng đã nêu các dẫn chứng về hiện tƣợng thanh niên có nghề nhƣng vẫn thất nghiệp, quy m các CSDN đƣợc mở rộng nhƣng nhà máy vẫn kh ng đ công nhân kỹ thuật vào làm việc. Từ đó, tác giả đã đƣa ra nguyên nhân và biện pháp giải quyết, trong đó đặc biệt ch đến vấn đề đào tạo nghề gắn với nhu cầu c a các DN và xã hội. David Atchoaren [31], trong bài viết Vocational education and training for youth” Giáo dục và đào tạo nghề cho thanh niên , đã nêu ra thực trạng những khó 6 khăn c a thanh niên trong việc hội nhập thị trƣờng lao động. Vì thế, thanh niên cần phải đƣợc chuẩn bị tốt trƣớc khi tham gia thị trƣờng lao động, nhƣ tƣ vấn hƣớng nghiệp và đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu các DN và nhu cầu xã hội.
Bàn về lợi ích LKĐT nghề giữa CSDN và DN, theo nghiên cứu c a t chức Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training - Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề Châu Âu) [30] cho thấy 2 nhóm lợi ích chính mang lại cho các bên tham gia đó là lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Cả 2 nhóm lợi ích đều đƣợc phân chia cụ thể qua 3 cấp độ: Cấp độ vi mô (lợi ích c a cá nhân); Cấp độ trung gian (lợi ích c a DN); Cấp độ vĩ m lợi ích c a xã hội). Ngoài ra, các thành viên c a t chức này còn cho rằng, yếu tố tiền lƣơng và cơ hội việc làm là những yếu tố tạo nên thành công c a LKĐT nghề. Huang Chulin [29], với c ng trình Orienting technical and vocational education and training for the need of social and economic development in China” Định hƣớng giáo dục kỹ thuật và đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội ở Trung Quốc đã nghiên cứu đến mối quan hệ giữa đào tạo nghề với phát triển nguồn nhân lực và phân tích những ƣu nhƣợc điểm c a các m hình đào tạo gắn với nhu cầu c a xã hội trên thế giới mà Trung Quốc học tập và áp dụng thí điểm trong quá trình phát triển đào tạo nghề theo hƣớng đầu tƣ xây dựng, mở rộng, nâng cấp, cải tạo nội dung chƣơng trình; Ƣu tiên cho việc cập nhật tri thức mới, công nghệ mới, mời chuyên gia; Đa dạng hóa các cấp đào tạo và các hình thức trƣờng lớp, các khóa đào tạo ngắn hạn, các khóa đặc biệt đào tạo cán bộ kỹ thuật… Ở Cộng hòa Liên Bang Đức [8], sự gắn kết giữa đào tạo nghề với phát triển kinh tế, nhu cầu c a thị trƣờng lao động rất chặt chẽ và hiệu quả.
Chính ph Đức cũng huy động sự tham gia tích cực c a các lực lƣợng xã hội vào đào tạo nhân lực. Các DN tự nguyện tham gia đào tạo nghề trong hệ thống song hành. Các DN tƣ nhân cũng nhƣ các cơ quan, t chức tham gia đào tạo ngoài xí nghiệp đƣợc thực hiện rộng rãi nhƣng phải tuân th theo quy định c a nhà nƣớc đã đƣợc quy định trong Luật dạy nghề. HS tham gia hệ thống này đƣợc dạy các kĩ năng cơ bản cho ngành nghề đã chọn và sau đó đƣợc đào tạo chuyên sâu.
HS theo học ngành c a mình 3 ngày tại công ty, những ngày còn lại học tại trƣờng nghề hoặc HS có thể sử 7 dụng nhiều thời gian hơn tại công ty. Các công ty quyết định số lƣợng công nhân đƣợc đào tạo hay đào tạo theo chuyên ngành nào và cũng quyền tự do lựa chọn các ứng cử viên đƣợc tham gia đào tạo. Ở Thụy Sĩ , Dự án tăng cường các Trung tâm dạy ng ề (do Swisscontact triển khai tại Việt Nam giai đoạn 1994-2008 cho thấy cốt l i c a giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề tại Thụy Sĩ là việc học nghề kèm cặp với 3 ngày/tuần ở nơi làm việc và 2 ngày ở trƣờng cao đẳng nghề - một sự kết hợp có thể giúp HS ứng dụng luôn những kiến thức đã học vào công việc. Quá trình này thƣờng xuyên đƣợc tiến hành trong phạm vi một c ng ty, ngƣời Thụy Sĩ còn gọi hoạt động đào tạo này là “tập sự tại xí ng iệp” hoặc “tập sự àn ng ề” [4, tr.
Trƣờng học và nơi làm việc cùng kết hợp với nhau giúp c ng cố tay nghề và lý thuyết cho HS. Sau khi tốt nghiệp, họ sẽ đƣợc nhận vào các công ty hỗ trợ, liên kết với các trƣờng dạy nghề, làm việc phù hợp với nội dung chƣơng trình đào tạo cũng nhƣ nhu cầu thị trƣờng lao động. Các DN rất ý thức về trách nhiệm c a họ khi nói đến cung cấp ngƣời lao động dài hạn, đƣợc đào tạo đầy đ để đảm bảo khả năng phát triển tay nghề và đ i mới. Ở Na Uy [34], những ngƣời lựa chọn con đƣờng học nghề sẽ kí hợp đồng với một công ty mà công ty này phải đƣợc cơ quan có thẩm quyền công nhận là DN đào tạo.
Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể, DN cần phải bảo đảm nguyên tắc: Năm 1 các công nhân lành nghề sẽ hƣớng dẫn về kĩ thuật. Năm 2 giảm bớt hƣớng dẫn, tăng việc tự học. HV sẽ đƣợc hƣởng lƣơng học việc trong cả 2 năm học. Sau khi kết thúc học việc, họ sẽ đƣợc trao chứng chỉ và bắt đầu có thể tìm kiếm việc làm.
Về nội dung chƣơng trình dạy nghề sẽ do các t chức 3 bên cấp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng giáo trình dạy nghề và t chức đào tạo nghề. Nội dung đào tạo đƣợc soạn thảo dựa trên nguyên tắc xây dựng kiến thức cơ bản về đọc, viết, làm toán, khoa học, ngoại ngữ và các kĩ năng thực tiễn. Trong công tác đào tạo và dạy nghề, Chính ph quan tâm hỗ trợ kinh phí cho các DN với mức 12.000 Euro cho 2 năm học thực tập, DN hỗ trợ ở mức 40% lƣơng cơ bản ở năm đầu và 60% ở năm thứ hai cho ngƣời học. Do đặc điểm, yêu cầu về đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nƣớc có khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực đào tạo 8 nghề mà cả phƣơng pháp, hình thức, qui m đào tạo cũng có sự khác nhau song có điểm chung là đều chú trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho ngƣời lao động.
Ở Hàn Quốc, từ giữa thập niên 80, Hàn Quốc đã bắt đầu cải cách chƣơng trình đào tạo, đƣa vào thử nghiệm hệ thống 2+1”. Đây là chƣơng trình có sự liên kết giữa CSDN và DN với thời gian đào tạo 3 năm gồm 2 năm đào tạo tại trƣờng, 1 năm thực tập tại DN) nhằm tăng chất lƣợng đầu ra, một mô hình mới với mục tiêu đào tạo là hƣớng tới năng lực thực hiện c a ngƣời học, tăng thời gian thực hành và cung cấp kinh nghiệm thực tiễn cho ngƣời học trong thời gian thực tập tại DN. Luật Hàn Quốc quy định các công ty sử dụng trên 300 lao động thì phải có bộ phận t chức đào tạo tại DN. Nhờ đó, Hàn Quốc đã đạt đƣợc mục tiêu đề ra là đáp ứng đƣợc số lƣợng và chất lƣợng lao động kỹ thuật theo nhu cầu xã hội, thỏa mãn yêu cầu DN và làm tăng khả năng cạnh tranh c a nền kinh tế Hàn Quốc trong thời đại toàn cầu hóa.86-92] Nhƣ vậy, LKĐT giữa CSDN và DN đã đƣợc nhiều nƣớc trên thế giới áp dụng thành c ng dƣới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm riêng c a mỗi quốc gia, và đã khẳng định đƣợc tính hiệu quả trong đào tạo, cũng nhƣ khả năng đáp ứng tốt nhu cầu nguồn nhân lực cho sản xuất.
Tại Việt Nam Trong những năm qua, Quốc hội và Chính ph đã ban hành một số văn bản Luật Giáo dục năm 2005 [20] Điều 59, Điều 95; Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 [21], Điều 51, Điều 52; Quy định về đào tạo trình độ sơ cấp năm 2015 [1] quy định quyền và trách nhiệm c a DN trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp. Văn kiện đại hội Đảng khóa XI cũng đã chỉ đạo: Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển c a xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo” [5]. Chiến lƣợc phát triển nhân lực Việt Nam thời kì 2011 – 2020 yêu cầu phải chuyển nhanh hệ thống đào tạo nhân lực sang hoạt động theo cơ chế đào tạo theo nhu cầu xã hội và thị trƣờng nhất là các ngành nghề trọng điểm”[6].