chương 1 sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn định hướng cho việc nghiên cứu về đường biên giới Việt Nam - Lào.1- Biên giới quốc gia và việc xác lập đường biên giới trên đất liền 1.1- Biên giới quốc gia [8, 10, 20, 24] 1.1- Khái niệm Lãnh thổ và biên giới quốc gia là những phạm trù lịch sử, là hệ quả tất yếu của xã hội loài người khi xuất hiện nhà nước và pháp luật. Cùng với sự phát triển của lịch sử, khái niệm về lãnh thổ và biên giới quốc gia cũng có một quá trình phát triển lâu dài và ngày càng hoàn thiện. Theo khái niệm thông thường, lãnh thổ là một phần trái đất bao gồm đất liền, hải đảo, vùng nước nội địa, vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng trời bên trên chúng cũng như lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền của một quốc gia nhất định. Ngoài ra, quốc gia (nhất là quốc gia ven biển) còn có các lãnh thổ đặc biệt với quy chế pháp lý khác biệt về cơ bản so với các vùng lãnh thổ thông thường.
Các “lãnh thổ đặc biệt” có thể kể đến là: vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền về kinh tế; thềm lục địa; sông, kênh đào quốc tế; nơi ở và làm việc của phái đoàn ngoại giao; phương tiện giao thông, phương tiện bay, dây cáp, ống dẫn ngầm nằm trên lãnh thổ một nước khác hay nằm ngoài lãnh thổ của bất cứ quốc gia nào; lãnh thổ cho mượn hay nhượng lại có thời hạn. Trong tiếng Việt, lãnh thổ là một danh từ, có nghĩa “đất đai thuộc chủ quyền của một nước” [19]. Với vị trí địa lý của mình, Việt Nam có lãnh thổ 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao gồm “đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời” kể cả lòng đất của đất liền, của các hải đảo, đáy và lòng đất dưới đáy vùng biển như quy định trong Điều 1 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Quốc gia có lãnh thổ tức là có biên giới quốc gia.
Biên giới quốc gia, theo tiếng Việt có ý nghĩa số ít, ám chỉ là một “đường” hay “tuyến” và được dùng để nói đến đường biên giới chính thức giữa các quốc gia (tức là biên giới quốc tế). Theo tiếng Pháp, “Les Frontiès” cũng có tính chất quốc tế, luôn ở số nhiều, ám chỉ một không gian hay một khu vực biên giới; theo tiếng Anh, “The Boundaries” cũng có tính chất quốc tế, luôn ở số nhiều nhưng lại ám chỉ dạng tuyến. Về mặt địa lý, biên giới của một quốc gia là đường và mặt phẳng thẳng đứng đi qua đường xác định phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Trên phương diện pháp luật, biên giới quốc gia là “hàng rào pháp lý” xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia.
Biên giới quốc gia là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia với quốc gia khác và/hoặc với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đó. Nói một cách khác, biên giới quốc gia chính là giới hạn ngăn cách lãnh thổ của quốc gia này với quốc gia khác và ngăn cách lãnh hải với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Biên giới trước hết gắn với lãnh thổ vì nó đánh dấu giới hạn của lãnh thổ. Những cộng đồng người du mục trước đây không biết khái niệm biên giới, nhưng đến thời đại văn minh, mỗi bộ lạc có khu vực săn bắn, hái lượm của mình và giữa hai bộ lạc bao giờ cũng có khoảng rừng hay khu vực ngăn cách, không bộ lạc nào được đến săn bắn hay hái lượm (Ăng-ghen gọi là Schutzwal’d).
Đó là hình ảnh đầu tiên về biên giới - vùng. Thời Hy Lạp - La Mã, khái niệm biên giới còn chưa rõ. Người La Mã thiết lập bức tường gọi là LIMES, song đây không hẳn là biên giới vì chỉ có mục đích nhằm đánh dấu bước tiến tạm thời của các đạo binh trên bước 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đường tiến quân. Trên thực tế, bức tường đó biến chuyển theo đoàn quân chinh phục các vùng đất và đánh dấu sự cách biệt giữa đế quốc và thế giới man rợ.
Vua Tần Thuỷ Hoàng cho xây dựng bức Vạn lý Trường thành dài 6.000 Km để ngăn cách lãnh thổ nước Tần với thế giới Hung Nô cũng là một kiểu biên giới nhưng với ý đồ chiến lược chủ yếu là nhằm ngăn cách Hung Nô tiến vào lãnh thổ nước Tần. Đến thời Trung đại, các đế quốc lớn lần lượt tan vỡ thành vô số những nước nhỏ, khi đó khái niệm về biên giới - vùng của các đế quốc không còn thích hợp với các cộng đồng mới xuất hiện với những quốc gia chồng chéo lên nhau, không những có vấn đề chủ quyền mà còn có vấn đề tôn chủ và chư hầu, thậm chí trên một lãnh thổ có hai, ba chính quyền chính trị. Từ thời Trung đại về sau, các quốc gia hiện đại xuất hiện, biên giới đánh dấu sự kết thúc chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, ngăn cách chủ quyền của các nước láng giềng. Lúc đầu là biên giới - vùng, sau tiến lên biên giới - tuyến.
Sau cuộc chiến tranh ba mươi năm, các nước Đức, Pháp và Thuỵ Điển ký Hiệp ước Wesphalie năm 1648 lần đầu tiên quy định các quốc gia hiện đại quan hệ với nhau bằng luật pháp. Vấn đề biên giới ngày càng gắn với vấn đề lãnh thổ, yêu cầu ổn định biên giới càng cần thiết để phân rõ chủ quyền lãnh thổ của các bên, do đó biên giới dần dần trở thành biên giới - tuyến. Trước khi xuất hiện biên giới - tuyến, việc miêu tả biên giới chỉ dựa vào các văn bản, vào nhà địa lý thời cổ. Nhưng về sau thiên văn và toán học được phục hưng, việc miêu tả biên giới dựa vào quan sát trên thực địa, do đó các nhà địa lý phải tìm những giới hạn các địa phương: các nhà toán học tính toán, các kỹ sư vẽ lên bản đồ; nước Đức là nước đầu tiên trên thế giới đã xuất bản một bản đồ địa hình tỷ lệ lớn; năm 1681, Viện Hàn lâm khoa học Pháp công bố bản Tổng đồ của nước Pháp tỷ lệ 1/86.
Tuy khái niệm biên giới - tuyến ngày càng được chấp nhận, nhiều giới của nước Pháp có quan điểm vẫn muốn nước Pháp có “biên giới tự nhiên”, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa là nước Pháp lấy dãy núi Py-rê-nê, dãy núi An-pơ, sông Ranh làm ranh giới của mình. Bản thân nhà vua Pháp cũng không muốn biên giới của mình có mốc quốc giới. Tuy vậy, các nhà chính trị của nước Pháp không tán thành thuyết “biên giới tự nhiên”. Thuyết “biên giới - tuyến” ngày càng được chấp nhận phổ biến và chủ quyền lãnh thổ quốc gia đều căn cứ vào biên giới - tuyến.
Do thực tế và ý muốn của các quốc gia, biên giới không chỉ giới hạn trên mặt đất mà còn có khuynh hướng mở rộng theo hai hướng: Biển và Trời. Trước khi có khái niệm biên giới biển, để tranh giành vùng biển, các quốc gia nêu các thuyết vùng biển kế cận, vùng biển liền kề, vùng biển tiếp giáp. Nhưng con người ngày càng mở rộng khai thác biển, người ta còn tranh cãi về biển mở (tự do đi lại) hay biển kín. Trước đây, nhiều nước không quy định vùng biển của mình.
Do sớm phát triển ngành hàng hải, các nước phương Tây đã sớm quy định lãnh hải của nước mình là 3 hải lý căn cứ vào tầm xa của đại bác thời bấy giờ là 5 Km. Về sau các nước quy định lãnh hải rộng 12 hải lý tuy con số đó không do một yêu cầu quân sự, khoa học hay ngư nghiệp gì cả, vì thế trong một thời gian khá dài, nước thì quy định lãnh hải 3 hải lý, nước thì quy định lãnh hải 12 hải lý, có nước quy định lãnh hải rộng tới 200 hải lý. Mãi đến năm 1982, Hội nghị của Liên hiệp quốc về Luật biển mới quy định thống nhất lãnh hải rộng 12 hải lý, tiếp theo lãnh hải 12 hải lý là một vùng 200 hải lý tính từ đường cơ sở gọi là vùng đặc quyền về kinh tế với các quyền riêng biệt về kinh tế. Từ đầu thế kỷ XX, ngành hàng không ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Theo pháp luật quốc tế, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt trên lãnh thổ của mình. Nếu theo chiều nằm ngang, giới hạn của chủ quyền là biên giới lãnh thổ và việc quy định chủ quyền không có khó khăn vì biên giới nằm trên mặt đất. Nhưng theo chiều thẳng đứng thì không rõ quy định biên giới trên không lên đến đâu là cùng. Người ta thường phân biệt vùng trời theo 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghĩa thông thường ta hiểu là không gian ngoài khí quyển.
Có người đã đề xuất lãnh thổ vùng trời cao 100 km nhưng chưa được chấp nhận. Công ước Chi-ca-gô 1944 quy định về mặt pháp lý mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt đối với không gian khí quyển ở bên trên lãnh thổ mình, các máy bay được hưởng quyền tự do cơ bản là quyền bay qua không gây hại vùng trời của nước khác nhưng phải theo các quy định của công ước, quyền xuống sân bay để tiếp tế hay sửa chữa. Công ước này đã thành lập ra Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (OACJ) được coi là một tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc có nhiệm vụ thống nhất các quy định về hàng không dân dụng. Quy chế về không gian ngoài khí quyển lại hoàn toàn khác.
Hiệp ước ngày 27-01-1967 quy định các nước được tự do sử dụng không gian ngoài khí quyển. Nhưng vấn đề vệ tinh thông tin trên quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh (cách trái đất 36.000 km) chỉ có lợi cho các nước phát triển có khả năng kỹ thuật và tài chính. Vấn đề mới đặt ra là phải tôn trọng các quyền của các nước vùng xích đạo và cũng là những nước đang phát triển. Để giải quyết vấn đề, một hội nghị quốc tế được triệu tập năm 1985 và năm 1988 để quyết định những nguyên tắc phân chia và quy hoạch quỹ đạo địa tĩnh.
Nước Việt Nam ở gần xích đạo, lại có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nên đã tham dự vào việc chia quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh. Tóm lại, khái niệm biên giới nảy sinh để đánh dấu phạm vi chủ quyền lãnh thổ, nhưng về sau khái niệm đó được đa dạng hoá theo nhu cầu chính trị, kinh tế, tôn giáo thành những nhóm như biên giới văn hoá, biên giới tôn giáo, biên giới dân tộc, biên giới kinh tế .