mở đầu bằng các cuộc bãi công của công nhân ở nhà máy xi măng Hải Phòng, ở đồn điền Phú riềng, ở nhà máy sợi Nam Định, nhà máy diêm Bến Thủy. Kết hợp với công nhân là phong trào đấu tranh của nông dân diễn ra ở nhiều nơi như Hà Nam, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh. Phong trào đấu tranh đặc biệt mạnh mẽ bắt đầu từ tháng 5-1930, trong ngày quốc tế 15 lao động 1-5-1930 lần đầu tiên công nông và nhân dân Đông Dương dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tỏ ra dấu hiệu đoàn kết với vô sản thế giới và biểu dương lực lượng của mình. Phong trào phát triển với qui mô rộng lớn của cả nước, tập trung ở các nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ và các đô thị lẫn nông thôn ở cả ba miền Trung, Nam, Bắc.
Hầu hết các cuộc đấu tranh đều thắng lợi, thực dân Pháp và bọn tay sai một mặt tăng cường đàn áp khủng bố một mặt phải thực hiện những nhượng bộ nhất định như thả người bị bắt, cải thiện điều kiện làm việc của công nhân, hoãn thuế cho nông dân. Tháng 9-1930, phong trào phát triển đến đỉnh cao từ khẩu hiệu đấu tranh đòi dân sinh dân chủ ban đầu quần chúng đã tiến lên đấu tranh chính trị, từ những cuộc đấu tranh đòi giảm sưu giảm thuế ban đầu môt số nơi chuyển sang hành động trừng trị bọn cường hào ác bá, đốt ấn triên, phá ngục tù của thực dân Pháp. Trong nhiều cuộc biểu tình, quần chúng nhân dân đã tổ chức được các đội vũ trang để tự vệ để chống đàn áp. Bên cạnh các cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ còn xuất hiện các cuộc biểu tình ủng hộ Công Xã Quảng Châu và kỷ niệm cách mạng tháng Mười Nga.
Cao trào cách mạng của công nông đã lôi cuốn nhiều trí thức tham gia. Đặc biệt là ở Nghệ An - Hà Tĩnh, trước khí thế đấu tranh của quần chúng, bộ máy chính quyền của đế quốc và tay sai ở nhiều huyện đã bị tê liệt, tan rã. Các tổ chức Đảng ở địa phương đã chỉ đạo quần chúng tiến hành quản lý đời sống và trật tự xã hội, mặc nhiên làm nhiệm vụ của một chính quyền nhân dân. Chính quyền Xô viết Nghệ Tĩnh đã tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ và các luật lệ bất công của bọn thực dân phong kiến, ban bố quyền tự do dân chủ cho nhân dân.
Chính quyền đã chia lại công điền, công thổ một cách công bằng, thủ tiêu các thứ thuế vô lý, giải quyết nạn đói, củng cố đê điều, vận động nhân dân hỗ trợ nhau tăng gia sản xuất. Về văn hóa xã hội, chính quyền tổ chức đời sống mới, mở lớp dạy Quốc ngữ cho nhân dân, xóa bỏ các tệ nạn xã hội và các hủ tục mê tín dị đoan, xây dựng tình thân ái đoàn kết đồng cam cộng khổ giúp đỡ nhau của người lao động. Xô Viết Nghệ Tĩnh trở thành nguồn cỗ vũ mạnh mẽ cho lực lượng công nông trên cả nước. Khắp nơi trong các cuộc đấu tranh ngoài các khẩu hiệu đòi tăng lương ,giảm giờ làm, chống khủng bố đàn áp, còn xuất hiện các khẩu hiệu ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Khi Xô Viết Nghệ Tĩnh ra đời cuộc đấu tranh của nhân dân ta và thực dân Pháp diễn ra càng quyết liệt hơn. Thực dân Pháp điên cuồng đàn áp khủng bố nhân dân Nghệ An - Hà 16 Tĩnh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương nhân dân ta vẫn kiên quyết đấu tranh bảo vệ và duy trì ảnh hưởng của chính quyền Xô Viết công nông đầu tiên của dân tộc. Tuy vậy, khi phong trào phát triển đến đỉnh cao ở một số địa phương đã xuất hiện khuynh hướng “tả”, khuynh hướng này làm cho phong trào chỉ mang màu sắc công nông mà chưa thể hiện được là phong trào của dân tộc. Ở nước ngoài Nguyễn Ái Quốc theo dõi sát sao diễn tiến của phong trào cách mạng 1930-1931, từ tháng 9-1930, Người đã gởi thư báo cáo cho Quốc Tế Cộng Sản yêu cầu Quốc tế Cộng sản, Quốc tế Công hội, Quốc tế Nông dân hãy làm tất cả những gì có thể làm được để giúp đỡ và ủng hộ phong trào cách mạng ở Đông Dương.
Tháng 4-1931, Nguyễn Ái Quốc viết thư gởi Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, nhấn mạnh phải xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng và tổ chức. Người chỉ rõ những điểm còn thiếu sót trong việc tổ chức lực lượng của Đảng và các đoàn thể quần chúng ở các khu vực thuộc Trung kỳ và Bắc kỳ. Dưới sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng và sự chỉ dẫn của Nguyễn Ái Quốc, Đảng ta đã có những chỉ thị cụ thể cho phong trào cách mạng như chỉ thị về vấn đề thành lập “Hội phản đế đồng minh”; chỉ thị về phát triển đội tự vệ công nông; chỉ thị về việc chống âm mưu của thực dân Pháp ép buộc nông dân Nghệ An Hà tĩnh ra đầu thú; chỉ thị uốn nắn chủ trương thanh Đảng sai lầm của xứ ủy Trung kỳ. Nhờ vậy phong trào vẫn phát triển đúng hướng và tránh được nhiều tổn thất.
Cao trào 1930-1931 là bước thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa quyết định đến tiến trình phát triển về sau của cách mạng Việt nam. Cao trào bước đầu tạo ra trận địa và lực lượng cách mạng. Trong thực tế đấu tranh với quân thù, khối liên minh công nông đã được hình thành, đội ngũ cán bộ Đảng viên đã được rèn luyện và thử thách. Tuy cao trào cách mạng 1930-1931 bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội song thực dân Pháp không thể xóa được một thành quả của 17 cao trào cách mạng 1930-1931 là quyền lãnh đạo cách mạng đã thuộc về Đảng Cộng sản Việt Nam.
b)Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 10 - 1930) Từ ngày 14 đến ngày 31-10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất họp tại Hương Cảng (Trung Quốc), hội nghị đã đổi tên Đảng Cộng sản Việt nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương.Trần Phú được bầu làm Tổng Bí thư. Nội dung cơ bản của Luận cương chính trị tháng 10-1930 Xác định mâu thuẫn giai cấp diễn ra gay gắt giữa một bên là thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ với một bên là địa chủ phong kiến và tư bản đế quốc. - Về phương hướng chiến lược của cách mạng: lúc đầu cách mạng Đông Dương là một cuộc “cách mạng tư sản dân quyền”, có tính chất thổ địa và phản đế, “tư sản cách mạng dân quyền là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”, sau đó sẽ tiếp tục “phát triển, bỏ qua thời kỳ tư bổn mà tranh đấu thẳng lên con đường xã hội chủ nghĩa”. - Về nhiệm vụ của cách mạng: đánh đổ phong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất triệt để và đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.
Hai nhiệm vụ chiến lược này có quan hệ khăng khít với nhau, trong đó “vấn đề thổ địa là cốt của cách mạng tư sản dân quyền” và là cơ sở để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày. - Về lực lượng cách mạng: Giai cấp vô sản và nông dân là động lực chính của cách mạng tư sản dân quyền, trong đó giai cấp vô sản là động lực chính và mạnh. - Về lãnh đạo cách mạng: Luận cương khẳng định: “Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chánh trị đúng có kỷ luật tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành”. - Về phương pháp cách mạng: Luận cương nêu rõ phải ra sức chuẩn bị cho quần chúng về con đường “võ trang bạo động”.
Đến lúc có tình thế cách mạng, “Đảng phải lập tức lãnh đạo quần chúng để đánh đổ chánh phủ của địch nhân và giành lấy chánh quyền cho công nông”. Võ trang bạo động để giành chính quyền là một nghệ thuật, “phải tuân theo khuôn phép nhà binh”. Cách mạng Đông Dương là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới, vì thế giai cấp vô sản Đông Dương phải đoàn kết gắn bó với giai cấp vô sản thế giới, trước hết là giai cấp 18 vô sản Pháp, và phải mật thiết liên hệ với phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa. Luận cương đã khẳng định nhiều vấn đề căn bản thuộc về chiến lược của cách mạng.
Về cơ bản thống nhất với nội dung của Chính cương, sách lược vắn tắt của hội nghị thành lập Đảng tháng 2-1930. Tuy nhiên, luận cương không vạch rõ được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam thuộc địa là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và đế quốc Pháp xâm lược, từ đó không đặt nhiệm vụ chống đế quốc lên hàng đầu; không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc xâm lược và tay sai. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế đó là Luận cương chính trị chưa tìm ra và nắm vững những đặc điểm của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến và do nhận thức giáo điều, máy móc về vấn đề dân tộc và giai cấp trong cách mạng ở thuộc địa, lại chịu ảnh hưởng trực tiếp tư tưởng tả khuynh, nhấn mạnh một chiều đấu tranh giai cấp đang tồn tại trong Quốc tế Cộng sản và một số Đảng cộng sản trong thời gian đó. Sau hội nghị TW tháng 10-1930, Đảng có chủ trương mới: Ngày 18.1930 Thường vụ Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị Về vấn đề thành lập “Hội phản đế Đồng minh” là tổ chức mặt trận đầu tiên để tập họp các tầng lớp nhân dân; khẳng định vai trò của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
c)Cuộc đấu tranh khôi phục tổ chức và phong trào cách mạng, Đại hội Đảng lần thứ nhất (3-1935) Vừa mới ra đời, Đảng đã phát động được một phong trào cách mạng rộng lớn, mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ-Tĩnh (1-5-1930). Thực dân Pháp và tay sai đã thẳng tay đàn áp, khủng bố, cách mạng tổn thất hết sức nặng nề, hệ thống tổ chức Đảng bị phá vỡ, toàn bộ Ban Chấp hành Trung ương bị bắt.3 Phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống. Các đảng viên của Đảng trong các nhà tù ở khắp nước như nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội), Khám Lớn, Chợ Quán (Sài Gòn), nhà tù Vinh (Nghệ An) Hải Phòng, Côn Đảo, Kontum. đã bí mật thành lập nhiều chi bộ trong tù để lãnh đạo đấu tranh chống khủng bố, chống chế độ lao tù hà khắc, đòi cải thiện sinh hoạt.