Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của lập luận so sánh với việc làm văn nghị luận ở Trung học phổ thông - Chương 2: Rèn luyện kỹ năng lập luận so sánh trong làm văn nghị luận ở trung học phổ thông - Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA LẬP LUẬN SO SÁNH VỚI VIỆC LÀM VĂN NGHỊ LUẬN Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Quan niệm chung về so sánh Trong thế giới khách quan, nhiều sự vật, hiện tượng có những điểm chung và liên quan mật thiết với nhau, nhưng vẫn có nét riêng. Bởi vậy, trong quá trình nhận thức, người ta thường so sánh để tìm ra những điểm giống và khác nhau giữa các đối tượng để có những nhận xét, đánh giá chính xác về chúng. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2007 do Hoàng Phê (chủ biên) đã đưa ra cách hiểu về so sánh là “nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém”[21, tr.
Cuốn Giáo trình Tâm lí học đại cương của Nguyễn Quang Uẩn (chủ biên) cũng cho rằng so sánh “là quá trình dùng trí óc để xác định sự giống nhau hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các đối tượng nhận thức (sự vật, hiện tượng) [33, tr. Còn cuốn Phong cách học Tiếng Việt hiện đại của tác giả Hữu Đạt cùng đưa ra khái niệm so sánh là “việc đặt hai hay nhiều sự vật hiện tượng vào các mối quan hệ nhất định nhằm tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa chúng”[7, tr. Như vậy có thể nói rằng, các cách hiểu trên về so sánh đều có chung một quan điểm là: so sánh để thấy được sự giống nhau và khác nhau của sự vật, hiện tượng, từ đó thấy được rõ nhất về giá trị và đặc điểm nổi bật của mỗi sự vật hiện tượng. Trong Tiếng Việt, so sánh được xem xét trên hai góc độ: so sánh thường và so sánh tu từ.
So sánh thường là những so sánh giúp người ta hình dung ra sự vật dễ dàng hơn bằng cách lấy một sự vật làm tiêu chí rồi từ đó so với sự vật khác. Ví dụ: Lan học giỏi như Phương – so sánh ngang bằng; hay 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tôi cao hơn Hoa hoặc Nó nặng hơn Nam – so sánh hơn kém. So sánh tu từ là những so sánh mang tính nghệ thuật. Chúng ta thường gặp kiểu so sánh này rất nhiều trong các tác phẩm văn học.
Những so sánh này nhằm tạo nên tính bất ngờ, thể hiện độc đáo và có hiệu quả diễn đạt cao, chẳng hạn khi Trần Đăng Khoa viết: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa Tiếng rơi nghe mỏng như là rơi nghiêng Hay khi Hồ Chí Minh viết: Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ Người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà. Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ, cấu tạo mô hình so sánh trên đây có thể biến đổi ít nhiều như các từ chỉ phương tiện so sánh hay ý chỉ so sánh có thể bớt, vế B có thể đảo ngược lên trước vế A cùng với từ so sánh… Trong Làm văn, so sánh được xem là một thao tác tư duy, một thao nghị luận vì để nhận thức thấu đáo về sự vật, hiện tượng, con người không chỉ cần biết phân tích, tổng hợp, diễn dịch hay quy nạp mà người ta còn phải thường xuyên đối chiếu từ hai trở lên những sự vật, hiện tượng có liên quan, trên căn cứ xác định, để tìm ra những chỗ giống nhau và khác nhau, hơn hoặc kém nhau. Có thể nói, rõ ràng hơn thông qua so sánh giá trị của sự vật hiện tượng có thể xác định được, hoặc nổi bật hơn. Tóm lại, dù ở bất cứ bình diện nào thì so sánh cũng có một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng.
Vì vậy, trong giao tiếp (nói và viết) chúng ta nên tận 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dụng lợi thế triệt để của cách thức này vì nhiều khi chỉ cần so sánh đã làm nổi bật vấn đề. So sánh và lập luận so sánh trong làm văn nghị luận 1. So sánh là một thao tác tư duy Thao tác là một yếu tố không thể thiếu trong hoạt động của con người bởi nó nảy sinh ra từ chính nhu cầu hành động. Nhu cầu ấy chi phối việc con người hành động ra sao để đạt được mục tiêu đề ra trong cuộc sống.
Thao tác là một quá trình và một phương pháp để làm nên nội dung cho hành động. Vậy thao tác là gì? Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê (chủ biên) đã định nghĩa thao tác là: “thực hiện những động tác kỹ thuật để hoàn thành một công việc gì đó”[21,tr. Từ định nghĩa trên ta thấy, thao tác có tính chất kĩ thuật, có thể lắp ghép trong chuỗi hành động miễn sao phù hợp với mục tiêu đề ra của hành động. “Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự việc, hiện tượng trong thế giới khách quan mà trước đó ta chưa biết”[33, tr.
Như vậy tư duy chính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí. Tính giai đoạn chỉ phản ánh được cấu trúc bên ngoài của tư duy, còn nội dung bên trong của mỗi giai đoạn tư duy lại là một quá trình phức tạp, diễn ra trên cơ sở của các thao tác tư duy đặc biệt. Xét về bản chất, tư duy là một quá trình cá nhân thực hiện thao tác trí tuệ để giải quyết vấn đề được đặt ra. Việc cá nhân có giải quyết được vấn đề đó theo hướng nào phụ thuộc vào cá nhân đó tiến hành các thao tác tư duy trong đầu ra sao.
Thông thường để nhận thức thế giới chúng ta có các thao tác tư duy cơ bản như: phân tích – tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá và khái quát hoá. Các thao tác tư duy có mối liên hệ mật thiết với nhau, thống nhất với nhau theo một hướng nhất định. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, so sánh vốn là một thao tác cơ bản của tư duy lôgic. Khi tìm hiểu một đối tượng cụ thể, muốn xây dựng được một khái niệm, tìm ra được những đặc điểm và giá trị thực của nó thì ta phải tiến hành so sánh.
Đó là thao tác đem sự vật này đối chiếu với các sự vật khác để thấy sự tương đồng và sự khác biệt giữa chúng. Người ta thường đối chiếu một vật không biết hoặc ít biết với một sự vật quen thuộc, cốt làm cho ý nghĩa của chúng trở lên rõ ràng hơn, dễ nhận biết hơn. Có thể thấy rằng chính những thao tác này đã thúc đẩy quá trình vận động của tư duy để tìm ra cái mới. So sánh thực chất cũng là phân tích bởi vì trong thế giới khách quan khi muốn tìm hiểu sâu sắc các sự vật, hiện tượng xem chúng có điểm tương đồng nào đó nhằm tìm ra cái chung và cái riêng thì người ta phải đặt sóng đôi với sự vật, hiện tượng khác, dùng trí óc để khám phá, tìm hiểu và đem ra so sánh để chỉ ra điểm chung nào thuộc tính bên ngoài hay bản chất bên trong.
Muốn vậy thì phải tiến hành phân tích, chia nhỏ đối tượng ra để so sánh chúng trong sự thống nhất, trong các mối quan hệ qua lại, trong sự phụ thuộc lẫn nhau. Từ đó, ta mới có kết luận chính xác về sự tương đồng và sự khác biệt của các dấu hiệu được so sánh. Với các nghiên cứu dựa trên cơ sở tính khoa học, lôgic học đã đưa ra định nghĩa khái quát về so sánh như sau: “So sánh là thao tác lôgic nhờ đó mà nêu lên được dấu hiệu đối tượng bằng cách chỉ ra dấu hiệu tương tự với dấu hiệu ấy trong dấu hiệu khác đã biết là dấu hiệu đặc trưng nhất”[8, tr. Từ định nghĩa trên, ta thấy so sánh chính là quá trình chia tách đối tượng, đặt chúng sóng đôi, nghiên cứu chúng trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng đã biết của đối tượng, tìm ra dấu hiệu tương tự với nó ở đối tượng khác từ đó tìm ra cái chung, cái riêng của đối tượng được so sánh.
Trong so sánh lôgic, cấu trúc của so sánh thường có hai vế cái so sánh và cái được so sánh, có từ chỉ quan hệ so sánh và có các tiêu chí so sánh. Cái so sánh là sự vật, hiện tượng có những dấu hiệu đặc trưng đã biết để làm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuẩn, cái được so sánh là sự vật, hiện tượng chưa biết được đem ra để đối chiếu với những sự vật, hiện tượng đã biết, từ dùng để so sánh thể hiện quan hệ so sánh thường được diễn đạt bằng các từ: như, tựa, giống như, bằng, gần bằng, hơn, kém… Ví dụ: Có câu “Trên trời mây trắng như bông”. Khi đem ví dụ này ra phân tích theo cấu trúc của so sánh lôgic ta có: Sự vật được so sánh là mây, sự vật so sánh là bông, từ chỉ quan hệ so sánh là như, tiêu chí so sánh của sự vật là màu sắc trắng. Cách so sánh như vậy giúp người ta dễ dàng hình dung màu sắc của mây trắng giống như màu sắc của bông.
Để so sánh được chính xác và không khập khiễng thì trong quá trình so sánh phải luôn dựa trên cùng một tiêu chí, có vậy so sánh mới cụ thể và mới rút ra được kết luận chính xác được. Tóm lại, so sánh theo lôgic có tác động rất lớn tới quá trình nhận thức của con người, nó luôn làm mới tư duy, làm tư duy có hình ảnh. So sánh là một thao tác lập luận Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 2 (cơ bản) do Lê A ( Chủ biên phần Làm văn) đã đưa ra khái niệm về lập luận trong bài văn nghị luận như sau: “Lập luận là đưa ra các lí lẽ, bằng chứng nhằm dẫn dắt người nghe (đọc) đến một kết luận nào đó mà người nói (viết) muốn đạt tới ”.