Lãnh đạo xây dựng nông thôn mới huyện Tiên Du (Bắc Ninh) từ năm 2008 đến năm 2016

Bài viết phân tích vai trò của Đảng bộ huyện Tiên Du, Bắc Ninh trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2008-2016, nêu bật những thành tựu và thách thức.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

118
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo xây dựng nông thôn mới huyện Tiên Du

Lãnh đạo xây dựng nông thôn mới huyện Tiên Du giai đoạn 2008-2016 là một quá trình quan trọng, phản ánh sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển nông thôn. Huyện Tiên Du, với vị trí địa lý thuận lợi và nguồn lực dồi dào, đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện đời sống người dân. Chương trình xây dựng nông thôn mới không chỉ là một nhiệm vụ chính trị mà còn là một chiến lược phát triển bền vững, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn.

1.1. Đặc điểm nông thôn huyện Tiên Du trước năm 2008

Trước năm 2008, huyện Tiên Du gặp nhiều khó khăn trong phát triển nông thôn. Hệ thống hạ tầng yếu kém, đời sống người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao. Những vấn đề này đã đặt ra thách thức lớn cho lãnh đạo huyện trong việc thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới.

1.2. Tầm quan trọng của chương trình nông thôn mới

Chương trình xây dựng nông thôn mới được xem là một trong những giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Nó không chỉ giúp cải thiện cơ sở hạ tầng mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo ra môi trường sống tốt hơn cho người dân.

II. Những thách thức trong lãnh đạo xây dựng nông thôn mới

Trong quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới, huyện Tiên Du đã đối mặt với nhiều thách thức. Việc huy động nguồn lực đầu tư, sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và cộng đồng dân cư còn hạn chế. Bên cạnh đó, nhận thức của một bộ phận người dân về chương trình nông thôn mới chưa đầy đủ, dẫn đến sự tham gia chưa tích cực.

2.1. Khó khăn trong huy động nguồn lực

Huy động nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới gặp nhiều khó khăn do ngân sách hạn chế và sự thiếu hụt đầu tư từ các doanh nghiệp. Điều này đã ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các tiêu chí nông thôn mới.

2.2. Nhận thức của người dân về chương trình

Một số người dân chưa nhận thức rõ về lợi ích của chương trình xây dựng nông thôn mới. Điều này dẫn đến sự tham gia chưa tích cực trong các hoạt động xây dựng và phát triển cộng đồng.

III. Phương pháp lãnh đạo hiệu quả trong xây dựng nông thôn mới

Để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới, huyện Tiên Du đã áp dụng nhiều phương pháp lãnh đạo hiệu quả. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư là yếu tố then chốt trong quá trình này.

3.1. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp

Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền và tổ chức đoàn thể đã giúp nâng cao hiệu quả trong việc triển khai các chương trình xây dựng nông thôn mới. Các hoạt động được tổ chức đồng bộ, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong cộng đồng.

3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền

Công tác tuyên truyền về chương trình nông thôn mới được thực hiện mạnh mẽ, giúp người dân hiểu rõ hơn về mục tiêu và lợi ích của chương trình. Điều này đã tạo ra sự đồng thuận và tham gia tích cực từ cộng đồng.

IV. Kết quả đạt được trong xây dựng nông thôn mới

Giai đoạn 2008-2016, huyện Tiên Du đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong xây dựng nông thôn mới. Nhiều tiêu chí đã được hoàn thành, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Hệ thống hạ tầng nông thôn được cải thiện rõ rệt, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.

4.1. Cải thiện hạ tầng nông thôn

Hệ thống hạ tầng nông thôn được đầu tư nâng cấp, bao gồm đường giao thông, trường học, trạm y tế. Điều này đã giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế.

4.2. Nâng cao thu nhập cho người dân

Chương trình xây dựng nông thôn mới đã góp phần nâng cao thu nhập cho người dân thông qua việc phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa và các mô hình kinh tế hợp tác. Điều này đã giúp giảm tỷ lệ hộ nghèo trong huyện.

V. Bài học kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới

Quá trình lãnh đạo xây dựng nông thôn mới tại huyện Tiên Du đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Sự quyết tâm của lãnh đạo, sự tham gia tích cực của cộng đồng và việc áp dụng các phương pháp lãnh đạo hiệu quả là những yếu tố quan trọng giúp đạt được thành công.

5.1. Vai trò của lãnh đạo trong xây dựng nông thôn mới

Lãnh đạo có vai trò quyết định trong việc định hướng và chỉ đạo thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Sự quyết tâm và trách nhiệm của lãnh đạo đã tạo ra động lực cho toàn bộ hệ thống chính trị và cộng đồng.

5.2. Sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia tích cực của cộng đồng là yếu tố then chốt trong quá trình xây dựng nông thôn mới. Người dân cần được khuyến khích và tạo điều kiện để tham gia vào các hoạt động phát triển địa phương.

VI. Tương lai của xây dựng nông thôn mới huyện Tiên Du

Trong tương lai, huyện Tiên Du cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình xây dựng nông thôn mới, hướng tới phát triển bền vững. Việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế nông thôn là những mục tiêu quan trọng cần đạt được.

6.1. Định hướng phát triển bền vững

Huyện Tiên Du cần xây dựng các kế hoạch phát triển bền vững, đảm bảo sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho người dân.

6.2. Tăng cường nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới

Việc tăng cường huy động nguồn lực từ các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng là rất cần thiết. Điều này sẽ giúp huyện Tiên Du có đủ nguồn lực để thực hiện các chương trình xây dựng nông thôn mới trong tương lai.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN TRONG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN TIÊN DU 1. Một số khái niệm *Khái niệm: Khi xây dựng lý luận về xã hội, Mác và Ăngghen đã khái quát quy luật chung về hình thành đô thị, đó là kết quả của quá trình phân công lao động xã hội trong quá khứ, nhờ đó xã hội loài người tách thành hai phân hệ: đô thị và nông thôn. Theo Mác, sự phân công lao động trong nội bộ của một dân tộc trước hết là do có sự tách rời giữa lao động công nghiệp với lao động nông nghiệp và do đó gây ra sự tách rời giữa thành thị và nông thôn [7, tr. Sự hình thành đô thị cũng là quá trình làm cho xã hội nông thôn được khẳng định; vì vậy, giữa nông thôn và đô thị có nh ững điểm khác biệt.

Tuy nhiên, quan niệm về nông thôn có thể khác nhau ở mỗi quốc gia. Vùng nông thôn có thể được định nghĩa bởi quy mô định cư, mật độ dân số, khoảng cách đến những vùng thành thị, phân chia hành chính và tầm quan trọng của ngành công nghiệp. Theo tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), có thể định nghĩa nông thôn theo hai phương pháp[46, tr.67]: Thứ nhất, thành thị được xác định bởi luật, theo đó, là tất cả những trung tâm của tỉnh, huyện và các vùng còn l ại được định nghĩa là nông thôn. Thứ hai, sử dụng mức độ tập trung dân sống thành cụm quan sát được để xác định vùng thành thị.

Việt Nam theo phương pháp thứ nhất để phân định thành thị, nông thôn. Theo đó, nông thôn theo quy định về hành chính và thống kê của Việt Nam là những địa bàn thuộc xã (những địa bàn thuộc phường hoặc thị trấn được quy định là khu vực thành thị). Nông thôn là một xã hội, là môi trường sống của người nông dân, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiều nét đặc thù và nói gọn lại: đó không phải là đô thị (về không gian sống, về cấu trúc và tổ chức xã hội, về quan hệ con người và sinh kế) nhưng cũng không hoàn toàn đối lập với đô thị (nhất là về văn hóa) [47, tr. Như vậy, nông thôn theo quan niệm này được hiểu là nơi sinh sống của người nông dân với các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội đặc thù và không phải là đô thị.

Theo truyền thống và phổ biến hiện nay thì nông thôn là nơi định cư của những người sống chủ yếu bằng nghề nông, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, một số ít người sống bằng nghề phi nông nghiệp nhưng di động nghề thấp, thường là nghề do cha ông để lại và phân công lao động xã hội chưa cao, trình độ chuyên môn thấp, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu kinh tế nông thôn. Nông thôn đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông su ối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật. Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình. Những người ngoài họ tộc cùng chung sống luôn có tinh thần điều kiện giúp đỡ nhau tạo nên tình làng, nghĩa xóm lâu bền.

Trong mối quan hệ ứng xử giữa con người với con người ở nông thôn Việt Nam, các hành vi của mỗi cá nhân thường được đặt trong các thiết chế xã hội (gia đình, dòng họ, làng xóm.) làm cho vai trò của cộng đồng trở nên mạnh mẽ và cá nhân trở nên nhỏ bé. Sức mạnh của cộng đồng làng xã thể hiện cả trong quan hệ giữa các thành viên và những thành viên ngoài cộng đồng. Nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn những di sản văn hóa quốc gia như phong tục tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh. Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hóa dân tộc; đồng thời, là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú , hấp dẫn đối với mọi người.

Thông tư hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM khẳng định: nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị, các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã. Như vậy, nông thôn là một vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác, phân biệt với đô thị. Về NTM, các nhà nghiên cứu có nhiều tiếp cận khác nhau: tác giả Vũ Trọng Khải trong cuốn sách "Phát triển nông thôn Việt Nam: Từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại" cho rằng, NTM là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam.

Tô Văn Trường cho rằng, NTM cũng phải giữ được tính truyền thống, những nét đặc trưng nhất, bản sắc từng vùng, từng dân tộc và nâng cao giá trị đoàn kết của cộng đồng, mức sống của người dân. Mô hình nông thôn tiên tiến phải được dựa trên nền tảng cơ bản là nông dân có tri thức. Họ phải có trình độ khoa học về thổ nhưỡng, giống cây trồng, hóa học phân bón và thuốc trừ sâu, quản lý dịch bệnh, bảo quản sau thu hoạch, kinh tế nông nghiệp. Có tác giả lại khẳng định, NTM phải tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng làm đòn bẩy phát triển các ngành nghề khác; NTM đạt được bộ tiêu chí do Chính phủ ban hành (19 tiêu chí); NTM phải cải tạo được cảnh quan, bảo vệ môi trường, phục vụ CNH, HĐH đất nước; NTM phải áp dụng khoa học kỹ thuật mới, nâng cao thu nhập cho người dân.

Một số quan niệm khác cho rằng, NTM là nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có quy hoạch, kết cấu hạ tầng hiện đại, môi trường sinh thái trong lành, dân trí cao, giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh chính trị được giữ vững. Qua đó cho thấy, nhìn chung các học giả khá thống nhất khi khẳng định quan điểm về NTM đó là, nông thôn có kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao, dân trí cao, bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ và tái tạo. Nghị quyết 26-NQ/TƯ xác định: NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng KT - XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng XHCN [50]. Như vậy, mô hình NTM không phải là phép toán được hình thành bởi những số cộng đơn thuần mà là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt, thể hiện ở 5 nội dung: Thứ nhất, làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại.

Thứ hai, sản xuất phát triển bền vững theo hướng hàng hóa. Thứ ba, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao. Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển. Thứ năm, được quản lý tốt và dân chủ ngày càng được nâng cao.

Để xây dựng nông thôn với năm nội dung trên, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí, được khái quát thành 5 nhóm nội dung: nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng KT - XH, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hoá, xã hội, môi trường và về hệ thống chính trị. Hiện nay, các xã đều được hướng dẫn về nhóm tiêu chí để hướng dẫn tới từng người dân. Khi xã đạt đủ 19 tiêu chí đó thì được công nhận là xã NTM. Mô hình NTM được quy định bởi các tính chất: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao nhất trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước.

Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình NTM có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn, kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần. Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi và hoạch định chính sách. Trên tinh thần đó, các chính sách KT - XH sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình NTM.

Ngoài những đặc điểm chung của nông thôn truyền thống, mô hình NTM hiện nay còn có một số đặc điểm riêng, điều đó được thể hiện ở một số tiêu chí sau: Một là , NTM đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, CNH, HĐH, chuẩn bị những điều kiện vật chất, tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống, trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời. Trước hết, tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống, canh tác tự cung tự cấp, thuần nông (cổ truyền) sang sản xuất hàng hoá, dịch vụ, du lịch và những ngành nghề khác. Hai là , có khả năng khai thác hợp lý , nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng trưởng kinh tế cao, bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học.; cơ cấu kinh tế nông thôn phát triển hài hoà, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ