phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục cấu trúc của luận văn gồm có 2 chƣơng. Chƣơng 1: Hệ thống chính quyền cơ sở huyện Thạch Thất từ năm 2008 đến năm 2013 dƣới sự lãnh đạo của Đảng. Chƣơng 2: Nhận xét và bài học kinh nghiệm. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: HỆ THỐNG CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ HUYỆN THẠCH THẤT TỪ NĂM 2008 ĐẾN NĂM 2013 DƢỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG 1.1 Huyện Thạch Thất của thủ đô Hà Nội.
Thạch Thất là vùng đất cổ đƣợc hình thành từ rất sớm cùng với lịch sử dựng nƣớc và giữ nƣớc của dân tộc, là vùng đất đƣợc thiên nhiên ƣu đãi của xứ Đoài, có vị trí chiến lƣợc quan trọng về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng , an ninh của thủ đô Hà Nội. Từ khi có huyện đến nay đia giới hành chính của huyện và các xã trong huyện đã thay đổi rất nhiều lần. Trƣớc Cách mạng Tháng 8/1945 huyện Thạch Thất thuộc phủ Quốc Oai - tỉnh Sơn Tây, năm 1948 Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ban hành sắc lệnh số 48-1948 bãi bỏ các danh từ phủ, châu, quận…huyện Thạch Thất thuộc tỉnh Sơn Tây. Ngày 21/4/1965 hợp nhất hai tỉnh Hà Đông và Sơn Tây thành một đơn vị hành chính là tỉnh Hà Tây (cũ), Thạch Thất thuộc tỉnh Hà Tây.
Ngày 21/12/1975 hợp nhất 2 tỉnh Hà Tây(cũ) và Hoà Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Ngày 29/12/1978 huyện Thạch Thất đƣợc sáp nhập vào thành phố Hà Nội. Ngày 12/08/1991 tách tỉnh Hà Sơn Bình thành 2 tỉnh Hà Tây và Hoà Bình, chuyển huyện Thạch Thất từ Hà Nội về tỉnh Hà Tây. Ngày 1/8/ 2008, tỉnh Hà Tây sáp nhập về thành phố Hà Nội, hiện nay Thạch Thất là một trong 30 quận, huyện của thành phố Hà Nội.
Sau khi sáp nhập theo Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 của Quốc hội từ ngày 01/8/2008 huyện Thạch Thất đƣợc quản lý thêm 3 xã của huyện Lƣơng sơn (Hòa Bình) gồm: Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung. Hiện nay, theo số liệu thống kê năm 2011 tổng diện tích tự nhiên của huyện là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.05 km2 bao gồm 22 xã và 1 thị trấn. Với tổng dân số là 185.650ngƣời, mật độ là 236 ngƣời/ km2. Huyện Thạch Thất phía Bắc giáp huyện Phúc Thọ, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Quốc Oai, huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình), phía Tây và Tây Nam giáp thị xã Sơn Tây và huyện Ba Vì.
Thạch Thất có nhiều tuyến đƣờng quốc lộ chạy qua, phía Đông Nam là Đại lộ Thăng Long, phía Bắc giáp đƣờng quốc lộ 32, phía Tây Nam giáp đƣờng quốc lộ 21 (đƣờng mòn Hồ Chí Minh) và tuyến đƣờng Tỉnh lộ 446. Đồng thời trên địa bàn huyện thuộc vào khu quy hoạch Khu công nghệ cao Hòa Lạc 1.650 ha, Đại học Quốc Gia Hà Nội 1.200ha, Đô thị vệ tinh Hòa Lạc, Khu công nghiệp Quốc Oai – Thạch Thất. Là điều kiện thuận lợi để Thạch Thất giao lƣu và phát triển kinh tế, văn hóa với trung tâm Hà Nội và các tỉnh lân cận. Thạch thất là khu vực chuyển tiếp giữa vùng núi và trung du phía Bắc với vùng đồng bằng.
Nhìn chung địa hình thấp dần từ Tây sang Đông và chia thành ba dạng địa hình chính: Dạng địa hình đồng bằng bên bờ trái sông Tích, địa hình khá bằng phẳng, độ cao trung bình khoảng từ 3 đến 10m so với mặt biển. Bao gồm 11 xã, diện tích tự nhiên chiếm 30%, dân số chiếm 51,56% của huyện. Gắn với vùng là 9 làng nghề truyền thống trong đó chủ yếu là các nghề mộc, chế biến lâm sản, cơ kim khí và mây giang đan. Các điểm công nghiệp Bình Phú 14.72 ha, Kim Quan 10.98 ha, Canh Nậu 10.
Đây là nơi kinh tế - xã hội phát triển toàn diện, năng động nhất của huyện. Dạng địa hình bán sơn địa, đồi gò bao gồm 9 xã có diện tích tự nhiên chiếm 35,2 %, dân số chiếm 34,75% của huyện. Có độ cao trung bình so với mặt nƣớc biển từ 10m đến hơn 15m. Đất phát triển trên nền đá đã phong hóa nhiều nơi có lớp đá ong ở tầng sâu 20 - 50cm, xen kẽ đồi gò là những cánh đồng đã đƣợc cải tạo lâu đời để trồng lúa.
Đặc biệt vùng đồi gò đã đƣợc 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính phủ quy hoạch Đô thị vệ tinh Hòa Lạc, Khu công nghệ cao Hòa Lạc và Đại hoc Quốc gia Hà Nôi. Vùng núi gồm 3 xã Yên Trung, Yên Bình, Tiến Xuân (trƣớc đây thuộc huyện Lƣơng Sơn – Hòa Bình) có diện tích tự nhiên 7.063ha, dân số 23.500 ngƣời, trong đó 60% là dân tộc Mƣờng sinh sống. Với đặc điểm tự nhiên là những dãy núi cao từ trên 300m đến hơn 600m, địa hình của 3 xã bị cắt xẻ, xen lẫn núi cao là đồi gò thấp và những cánh đồng lúa, hoa màu trong đó núi và rừng lâm nghiệp chiếm 60% diện tích tự nhiên. Kết cấu hạ tầng cũng nhƣ đời sống của nhân dân các xã còn gặp nhiều khó khăn.
Mặc dù vậy nhƣng các xã miền núi này chỉ cách Hà Nội 35km (theo hƣớng Đại lộ Thăng Long) ví trí của các xã giáp với Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam, hồ Đồng Mô, trên địa bàn đã đƣợc Chính phủ phê duyệt dự án Khu đô thị Nam Thăng Long 750ha. Bên cạnh đó chạy dọc 3 xã là tỉnh lộ 446 và Đại lộ Thăng Long kéo dài Hòa Lạc – Hòa Bình. Địa phận các xã miền núi có nhiều dòng suối chảy từ dãy núi Viên Nam (Vua Bà) xuống cùng vói cảnh quan môi trƣờng rừng núi là tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế lâm nghiệp, nuôi trồng cây con đặc sản và du lịch nghỉ dƣỡng. Về đất đai, tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 18.459,05 ha trong đó đƣợc phân bổ nhƣ sau: đất nông nghiệp 9.015,89 ha, đất phi nông nghiệp là 8.473,63 ha ( trong đó: đất ở là 1.560,75 ha, đất chuyên dùng 6.225,58 ha, sông suối: 524,34 ha), đất chua qua sử dụng 969,53 ha ( chủ yếu của 3 xã miền núi) đất mặt nƣớc 200,1 ha ( trong đó có hồ Tân Xã rộng 80 ha).
Phân bổ đất đai các xã nhƣ sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Diện tích đất tự nhiên phân bổ tại các xã (ha) [44, tr. 10] TT Tên xã Dân số (2010) Đất đai (ha) (thị trấn) Hộ Nhân Tổng Đất ở Đất Đất nông Đất chƣa khẩu diện Lâm nghiệp sử dụng tích nghiệp 1 Liên Quan 1.479 392,86 130,07 238,89 5,42 4 Lại thƣợng 2.769 446,3 111,37 297,61 Ngải 7 Canh Nậu 2.779 3457,74 507,45 1226,03 229,56 8,72 Thạch Thất là huyện có lịch sử rất lâu đời. “Nghiên cứu các di chỉ khảo cổ tại huyện Lương Sơn (Hòa Bình) các nhà khoa học đã khẳng định dân tộc Mường là chủ nhân của nền văn hóa Hòa Bình cách đây trên 7. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những mảnh thước tìm thấy ở xóm Sọ Vàng (xã Cần Kiệm), nhiều lưỡi rìu đá tìm thấy ở Đồng Tôm ( xã Thạch Hòa) đã khẳng định vùng đồi gò là nơi cư trú của người Việt cổ từ 3.800 năm về trước”[44, tr.11] Canh tác lúa nƣớc hơn hẳn lúa nƣơng, vì vậy cả vùng đồi gò rộng lớn (dân cƣ kẻ Lói) đƣợc coi là vựa lúa trù phú, “ Đói vào Lói mà ăn”.
Thông qua nhiều mũi tên, mũi dao bằng đồng đào đƣợc tại Giếng Sãi (xã Hạ Bằng), Quán Sải (xã Phú Kim) và hai chiếc trống đồng có niên đại Hegen II đào đƣợc tại xã Đồng Trúc và xã Lại Thƣợng, có thể khẳng định đầu công nguyên những cộng đồng cƣ dân cổ đã phát triển dông đúc trên địa bàn huyện Thạch Thất. Các xã vùng đồng bằng dân cƣ hình thành muộn hơn, từ đầu công nguyên đến thế kỷ thứ VI nhƣng tƣơng đối ổn định nhƣ ngày nay. Việc khai khẩn đất đai và sản xuât thuận lợi, vì vậy dân cƣ phát triển nhanh, hình thành nên những cộng đồng dông đúc: Kẻ Nủa (gồm các xã Hữu Bằng, Thạch Xá, Chàng Sơn, Bình Phú, Phùng Xá), Kẻ Núc ( xã Canh Nậu, Dị Nậu), Kẻ Ngái ( Hƣơng Ngải – nơi tìm ra giống lúa cổ - Lua Ngái), Kẻ Săn (Liên Quan, Kim Quan), Kẻ Sàn, Kẻ Vàn ( Lại Thƣợng), Kẻ Đòng (Đại Đồng), Kẻ Sải ( Phú Kim).Cùng với sản xuất nông nghiệp phát triển thì nhiều ngành nghể tiểu thủ công nghiệp đƣợc ra đời, sản xuất giao thƣơng phát triển thịnh vƣợng “ nhất Kinh Kỳ, nhì Kẻ Nủa”. Tƣơng truyền nghề mộc xã Chàng Sơn có lịch sử hàng nghìn năm, nghề làm cày bừa Phùng Xá, đan vó lƣới Phú Ổ (Bình Phú) có cách đây trên 400 năm.mà vẫn nổi tiếng đến ngày nay.
Năm 2011 dân số của huyện là 185.650 ngƣời trong đó dân tộc Kinh chiếm 98,8%, dân tộc Mƣờng 5,2%. Mật độ dân cƣ bình quân là 236 ngƣời/km2 trong đó vùng nông giang là 1.450 ngƣời/km2 , vùng núi chỉ có 129 ngƣời /km2. Nhân dân trong huyện theo hai tôn giáo là đạo Phật và đạo Thiên Chúa, trong đó đạo Thiên Chúa chiếm 4,3 % dân số, sinh hoạt tại 4 giáo sứ Vĩnh Lộc, Dị Nậu, Cần Kiệm, Phú Nghĩa thuộc giáo phận Hƣng Hóa. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1998 huyện Thạch Thất đƣợc công nhận phổ cập Trung học cơ sở , đến năm 2013 phổ cập trung học phổ thông đạt 7,2% thanh niên trong độ tuổi.
100% các xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế, 40,25% số trƣờng học đạt chuẩn Quốc Gia. Trong huyện cơ bản không còn hộ đói, hộ nghèo còn 3,5 % (theo tiêu chí 2008 – 2013) 1.2 Quan điểm của Đảng về xây dựng chính quyền cơ sở.1 Khái niệm, vị trí vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và chính quyền cơ sở Hệ thống chính trị cơ sở Hệ thống chính trị cơ sở là cấp thấp nhất trong hệ thống chính trị 4 cấp (Trung ƣơng, tỉnh, huyện, xã) của nhà nƣớc ta. Vận hành theo cơ chế chung của hệ thống chính trị đó là: “ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” Trên quan điểm đó hệ thống chính trị cơ sở đƣợc xác định là “toàn bộ các thiết chế chính trị như tổ chức Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định và gắn bó hữu cơ với nhau nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở” [11, tr.