Đảng bộ huyện Từ Liêm lãnh đạo phát triển nông nghiệp giai đoạn 1986-2005

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của đảng bộ huyện Từ Liêm trong phát triển nông nghiệp giai đoạn 1986-2005, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chính sách.

Chuyên ngành

Lịch Sử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2009

119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN TỪ LIÊM TRƯỚC NĂM 1986

1.1. Vài nét về thiên nhiên, con người huyện Từ Liêm

1.2. Cơ chế quản lý kinh tế huyện Từ Liêm trước năm 1986

1.2.1. Xây dựng các hợp tác xã nông nghiệp theo mô hình tập thể hoá (1958-1980)

1.2.2. Bước đầu đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp (1981-1986)

2. CHƯƠNG 2: ĐẢNG BỘ TỪ LIÊM TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRONG NHỮNG NĂM 1986 - 1995

2.1. Chỉ đạo thực hiện ba chương trình kinh tế lớn theo tinh thần Đại hội VI của Đảng cộng sản Việt Nam

2.2. Tập trung chỉ đạo đổi mới cơ chế quản lý nông nghiệp theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị

2.3. Chỉ đạo thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo phân vùng sản xuất và thực hiện xây dựng nông thôn mới

2.4. Kết quả đạt được qua 10 năm Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp (1986 - 1995)

3. CHƯƠNG 3: ĐẢNG BỘ TỪ LIÊM TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ (1996 - 2005)

3.1. Chủ trương của Đảng về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn

3.2. Đảng bộ Từ Liêm tổ chức thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

3.3. Chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp

3.4. Chỉ đạo thực hiện chính sách khuyến nông, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật

3.5. Chỉ đạo tiếp tục đổi mới quản lý hợp tác xã nông nghiệp

3.6. Gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới

3.7. Kết quả tổ chức thực hiện và một số kinh nghiệm lịch sử

3.7.1. Kết quả tổ chức thực hiện

3.7.2. Một số kinh nghiệm lịch sử

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về lãnh đạo phát triển nông nghiệp huyện Từ Liêm 1986 2005

Lãnh đạo phát triển nông nghiệp huyện Từ Liêm trong giai đoạn 1986-2005 là một quá trình quan trọng, phản ánh sự chuyển mình của nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Thời kỳ này, huyện Từ Liêm đã có những bước tiến đáng kể trong việc áp dụng các chính sách nông nghiệp mới, nhằm nâng cao đời sống của người dân và phát triển kinh tế địa phương. Đảng bộ huyện đã chủ động triển khai nhiều chương trình, kế hoạch phát triển nông nghiệp, từ đó tạo ra những thay đổi tích cực trong sản xuất nông nghiệp.

1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội huyện Từ Liêm

Huyện Từ Liêm có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong vùng đồng bằng phì nhiêu, với nguồn nước dồi dào từ sông Hồng và sông Nhuệ. Điều này tạo điều kiện cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng trọt và chăn nuôi. Bên cạnh đó, dân cư đông đúc và có truyền thống sản xuất nông nghiệp lâu đời cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển này.

1.2. Vai trò của Đảng bộ trong phát triển nông nghiệp

Đảng bộ huyện Từ Liêm đã đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện các chương trình phát triển nông nghiệp. Sự lãnh đạo của Đảng đã giúp huyện thực hiện thành công nhiều chương trình kinh tế lớn, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp.

II. Những thách thức trong phát triển nông nghiệp huyện Từ Liêm 1986 2005

Mặc dù có nhiều thành tựu, nhưng huyện Từ Liêm cũng phải đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình phát triển nông nghiệp. Các vấn đề như biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, và sự cạnh tranh từ các sản phẩm nông nghiệp khác đã ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp tại đây.

2.1. Biến đổi khí hậu và tác động đến sản xuất nông nghiệp

Biến đổi khí hậu đã gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, như hạn hán, lũ lụt, và sự thay đổi của mùa vụ. Những yếu tố này đã làm giảm năng suất cây trồng và ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân.

2.2. Ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến nông nghiệp

Ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp và sinh hoạt đã tác động tiêu cực đến chất lượng đất và nước, từ đó ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Việc xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường là một thách thức lớn cho huyện Từ Liêm.

III. Phương pháp phát triển nông nghiệp bền vững tại huyện Từ Liêm

Để đối phó với những thách thức, huyện Từ Liêm đã áp dụng nhiều phương pháp phát triển nông nghiệp bền vững. Các chính sách khuyến nông, hỗ trợ nông dân trong việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất đã được triển khai hiệu quả.

3.1. Chính sách khuyến nông và hỗ trợ nông dân

Chính sách khuyến nông đã giúp nông dân tiếp cận với các kỹ thuật sản xuất hiện đại, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Huyện cũng đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, hội thảo để nâng cao nhận thức cho nông dân.

3.2. Ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp

Việc áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp đã giúp huyện Từ Liêm tăng cường năng suất và chất lượng sản phẩm. Các mô hình nông nghiệp công nghệ cao đã được triển khai, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân.

IV. Kết quả đạt được trong phát triển nông nghiệp huyện Từ Liêm 1986 2005

Trong giai đoạn 1986-2005, huyện Từ Liêm đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong phát triển nông nghiệp. Năng suất cây trồng và sản lượng nông sản tăng lên rõ rệt, góp phần nâng cao đời sống của người dân và thúc đẩy kinh tế địa phương.

4.1. Tăng trưởng sản xuất nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp của huyện Từ Liêm đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ, với nhiều loại cây trồng chủ lực như rau màu, hoa quả. Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong huyện mà còn cung cấp cho thị trường Hà Nội.

4.2. Cải thiện đời sống người nông dân

Nhờ vào sự phát triển nông nghiệp, đời sống của người nông dân huyện Từ Liêm đã được cải thiện đáng kể. Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp đã giúp nhiều hộ gia đình thoát nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống.

V. Kết luận và triển vọng phát triển nông nghiệp huyện Từ Liêm

Kết thúc giai đoạn 1986-2005, huyện Từ Liêm đã có những bước tiến quan trọng trong phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, để tiếp tục phát triển bền vững, huyện cần phải tiếp tục đổi mới và áp dụng các giải pháp hiệu quả hơn trong quản lý và sản xuất nông nghiệp.

5.1. Định hướng phát triển nông nghiệp trong tương lai

Huyện Từ Liêm cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, phát triển các mô hình nông nghiệp bền vững, và tăng cường hợp tác giữa các hộ nông dân để nâng cao hiệu quả sản xuất.

5.2. Tầm quan trọng của chính sách hỗ trợ nông nghiệp

Chính sách hỗ trợ nông nghiệp cần được cải thiện và mở rộng hơn nữa, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân trong việc tiếp cận nguồn lực và công nghệ mới, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh đảng bộ huyện từ liêm lãnh đạo phát triển nông nghiệp trong những năm 1986 2005

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ chế quản lý và thực trạng kinh tế nông nghiệp huyện Từ Liêm trước năm 1986. Chương 2: Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp trong những năm 1986 - 1995 Chương 3: Đảng bộ Từ Liêm tổ chức chỉ đạo phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (1996 - 2005) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ CHẾ QUẢN LÝ VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN TỪ LIÊM TRƢỚC NĂM 1986. Vài nét về thiên nhiên, con ngƣời huyện Từ liêm: Điều kiện tự nhiên: Huyện Từ Liêm nằm ở cửa ngõ phía Tây của Thủ đô, trong toạ độ 1060 kinh Đông và 21010 độ vĩ Bắc. Phía Bắc giáp với huyện Đông Anh (bên tả ngạn sông Hồng); phía Đông giáp quận Cầu Giấy, Tây Hồ; phía Tây giáp huyện Hoài Đức, Đan Phượng; phía Nam giáp quận Thanh Xuân.

Từ Liêm nằm trong vùng đồng bằng phì nhiêu, lưu vực của các dòng sông Hồng, sông Nhuệ nên nơi đây rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. Đây không chỉ là nguồn cung cấp nước dồi dào mà còn giúp đất đai màu mỡ – một nhân tố rất quan trọng trong việc phát triển ngành trồng trọt của huyện. Đồng thời, khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt là cơ sở để huyện mở rộng, đa dạng hoá các loại cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt, khí hậu mùa đông rất thích hợp với việc phát triển cây rau màu, cây thực phẩm vụ đông để phục vụ sinh hoạt của nhân dân, nguyên liệu cho chăn nuôi, chế biến rau… Về giao thông vận tải: Từ xưa ở Từ Liêm đã có đường giao thông thuỷ bộ thuận tiện.

Phía Bắc có sông Hồng và hai nhánh là sông Tô và sông Nhuệ chạy dọc theo chiều dài của huyện, thuyền bè đi lại tấp nập. Trên tuyến đê sông Hồng có các bến đò cổ: Chèm, Sù, Kẻ qua sông sang xứ Kinh Bắc. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đường bộ có quốc lộ 11 (nay là quốc lộ 32) nối kinh đô với xứ Đoài (Sơn Tây) chạy ngang giữa huyện, đường 70 (Hà Đông- Thượng Cát). Đầu thế kỷ XX có thêm các đường hàng tỉnh như đường 23 (Yên Phụ- Chèm), đường 65 (Nhật Tân- Ngã Tư Sở), đường 69 (Dịch Vọng- Chèm).

Nay, huyện có nhiều tuyến giao thông huyết mạch: đường Phạm Hùng- Phạm Văn Đồng – cầu Thăng Long đi sân bay quốc tế Nội Bài; đường Láng – Hoà Lạc (Trần Duy Hưng); đường đê hữu ngạn sông Hồng đi Sơn Tây. Do đặc điểm vị trí, Từ Liêm trở thành địa bàn có ý nghĩa cơ động và chiến lược về mặt quân sự. Miền đất này vừa là vành đai, áo giáp, hậu cứ bảo vệ thủ đô, vừa là cửa ngõ từ miền trung du, trung tâm quân sự Sơn Tây, căn cứ địa Việt Bắc xuống đồng bằng Bắc Bộ, tiến vào thành phố. Với vị trí như vậy, Từ Liêm có nhiều lợi thế trong xây dựng căn cứ, phòng thủ cũng như tiến công kẻ thù.

Địa lý hành chính: Từ Liêm có từ đầu Công nguyên thuộc huyện Luy Lâu, sau thuộc quận Giao Chỉ. Đến năm 621 (sau Công nguyên) lập huyện Từ Liêm cùng hai huyện Ô Diên và Vũ Lập thuộc Từ Châu. Dưới thời Lý, Trần, huyện Từ Liêm thuộc quận Vĩnh Khang; thời Lê, Tây Sơn và đầu Nguyễn thuộc phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) là một trong ba huyện của phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội Năm 1888, thực dân Pháp thành lập thành phố Hà Nội, một số xã thuộc huyện Từ Liêm trước đây được cắt vào khu ngoại thành Hà Nội.

Đến năm 1915, khu vực này đổi thành huyện Hoàn Long- tỉnh Hà Đông. Sau đó, vua Khải Định ra đạo dụ (26-12-1918) quy định cấp phủ ngang cấp huyện thì huyện Từ Liêm không còn chỉ còn phủ Hoài Đức thuộc tỉnh Hà Đông. Để mở rộng thành phố Hà Nội, ngày 31-12- 1942 Pháp quyết định cắt 23 làng thuộc phủ Hoài Đức cùng với huyện Hoàn Long lập ra “Đại lý đặc biệt”, nhân dân quen gọi là đại lý Hoàn Long, trụ sở ở ấp Thái Hà (nay thuộc quận 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phủ lỵ Hoài Đức đóng ở xã Dịch Vọng (nay thuộc phường Dịch Vọng, quận Cầu Giấy), sau ngày 9-3-1945 chuyển về xã Tây Tựu.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng chia lại thành nhiều đơn vị hành chính nhỏ và qua nhiều lần đổi tên: tháng 5 – 1946, ngoại thành chia thành 5 khu: Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh. Đầu năm 1947, thực dân Pháp chiếm một số vùng ở ngoại thành nên 5 khu được tổ chức thành 3 quận: sáp nhập khu Lãng Bạc và Đại La để thành lập quận IV; chia 3 khu Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh thành hai quận V và VI. Từ tháng 12 – 1949 đến tháng 10-1953 thống nhất 3 quận IV, V, VI thành quận ngoại thành. Ngày 31-5-1961, thành phố Hà Nội được mở rộng, một số xã thuộc huyện Hoài Đức, Đan Phượng tỉnh Hà Đông cũ sáp nhập với quận V và quận VI ngoại thành Hà Nội, lập ra huyện Từ Liêm gồm 26 xã: Nghĩa Đô, Xuân La, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế, Thụy Phương, Đức Thắng, Phú Thượng, Nhật Tân, Tứ Liên, Quảng An (quận V); Trung Thành, Nhân Chính, Trung Hoà, Yên Hoà, Dịch Vọng, Mai Dịch, Hoà Bình, Mễ Trì (quận VI); Xuân Phương, Hữu Hưng, Cương Kiên huyện Hoài Đức); Tân Dân, Tân Tiến, Minh Khai, Trần Phú, Trung Kiên (huyện Đan Phượng).

Đến năm 1973, cắt xã Yên Lãng về khu phố Đống Đa (nay là quận Đống Đa). Năm 1995, lập quận Tây Hồ, huyện Từ Liêm bàn giao 5 xã về quận Tây Hồ;1 cuối năm 1996, chuyển xã Nhân Chính về quận Thanh Xuân;2 năm 1997, cắt 3 xã: Yên Hoà, Trung Hoà, Dịch Vọng và 4 thị trấn: Nghĩa Đô, Nghĩa Tân, Mai Dịch, Cầu Giấy để thành lập quận Cầu Giấy. Huyện Từ Liêm ngày nay còn 16 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cầu Diễn và các xã: Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc, Thuỵ Phương, Liên Mạc, Thượng Cát, Tây Tựu, Xuân Phương, Tây Mỗ, Đại Mỗ, Trung Văn, Mễ Trì, 1 Theo Nghị định số 69/CP ngày 28-10-1995 của Thủ tướng Chính Phủ. 2,3 Theo Nghị định số 74/CP ngày 22-11-1996 của Thủ tướng Chính phủ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mỹ Đình, Phú Diễn, Minh Khai; có diện tích trên 75km2 (trong đó đất nông nghiệp khoảng 4100ha), với hơn 24,24 vạn người1.

Cư dân và bản sắc văn hoá: Với điều kiện thuận lợi về tự nhiên để phát triển nông nghiệp, Từ Liêm là một trong những địa bàn sinh tụ của cư dân Văn Lang thời dựng nước. Qua khai quật các di chỉ khảo cổ học ở thôn Ngọc Long (xã Minh Khai) cho thấy những di chỉ này thuộc văn hoá Phùng Nguyên- đầu thời đại đồng thau cách ngày nay khoảng 4000 – 3500 năm trước Công nguyên. Tại di chỉ Vinh Quang (địa phận xã Cát Quế, Di Trạch) trong tầng văn hoá lớp trên đã tìm thấy nhiều dụng cụ như lưỡi rìu chiến, búa chiến, mũi tên,.; cùng lớp đó, đã tìm thấy một số đồng tiền bán lạng Lữ Hậu (187- 180 trước Công nguyên). Tầng văn hoá này tiêu biểu cho giai đoạn 3 văn hoá Gò Mun.

Ở tầng văn hoá lớp dưới đã thấy nhiều công cụ sản xuất, đồ trang sức, tiền ốc, các loại đồ gốm có màu sắc, hoa văn trang trí phong phú và 11 sọ người niên đại các – bon phóng xạ di chỉ là 1095 năm trước Công nguyên. Các di chỉ đồng Dền, gò Chiền là tiêu biểu cho văn hoá Gò Mun. Ngôi mộ cổ khai quật ở khu vực Cầu Giếng (Thuỵ Phương) có niên đại khoảng 200 năm trước Công nguyên. Những viên gạch ( ở Xuân Đỉnh) được tráng men nâu mỏng xác định từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ III, cách ngày nay khoảng 2000 năm.

Nhiều ngôi mộ cổ được phát hiện dưới lòng đất làng Chèm – Vẽ (Thuỵ Phương- Đông Ngạc), đó là khu mộ Hán có niên đại từ thế kỷ I đến thế kỷ VI (sau Công nguyên), thời nước ta thuộc Đông Hán. Di vật trong lòng mộ gồm: kiếm sắt, kiếm đồng, nhẫn vàng, bạc, tiền đồng, bình vò, cốc chén và cả mộ hình nhà, giếng nước, bếp lò bằng gạch nung. Những di vật ấy khẳng định huyện Từ Liêm lúc đó đã có cư dân sinh sống. 1 Theo Văn hoá Thông tin Hà Nôi, số 8-2004.

13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, ngay từ buổi đầu của lịch sử dân tộc, cư dân trên vùng đất này đã chung lưng đấu cật, cùng chung sức khai phá đất đai, chống chọi với thiên tai, địch hoạ, lập nên xóm làng trù phú. Nguồn sống chính của cư dân là sản xuất nông nghiệp cấy lúa, trồng màu, nuôi tằm, chăn nuôi,. Các di vật khai quật cho thấy trên vùng đất Từ Liêm lúc đó đã có một bộ phận cư dân sinh sống, cấu thành nhà nước Văn Lang của các vua Hùng, chủ nhân của nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Từ Liêm xưa và nay luôn là vùng đất gắn bó chặt chẽ với Thăng Long – Hà Nội.

Bên cạnh cư dân bản địa từ xa xưa, còn có cư dân từ khắp các địa phương, qua nhiều thời đại đến làm ăn sinh sống, đùm bọc lẫn nhau. Ở địa bàn tiếp giáp với kinh kỳ, trải qua hàng ngàn năm lao động với đôi bàn tay khéo léo và sáng tạo, người dân Từ Liêm đã tạo ra những sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nổi tiếng. Nói đến rau, quả không thể không nhắc đến: su hào, bắp cải, cà chua, dưa hấu Tây Tựu, Phú Diễn; ngoài cam Canh (Xuân Phương) đã được ghi vào sử sách nghìn xưa, nay thêm bưởi Phú Diễn, Minh Khai, hồng xiêm Xuân Đỉnh làm giàu cho cây trái Thủ đô. Với truyền thống lao động cần cù, người dân Từ Liêm còn khéo léo chế biến ra các món ăn ngon như giò Chèm, nem Vẽ (Đông Ngạc, Thuỵ Phương), bánh đúc làng Kẻ (Thượng Cát), bánh tẻ làng Diễn (Minh Khai), bánh trung thu (Xuân Đỉnh).

Về tiểu thủ công nghiệp, nghề dệt thêu ren đạt kỹ nghệ tinh xảo ở Miêu Nha (Tây Mỗ), Đại Mỗ; làng Vẽ (Đông Ngạc), làng Dộc Cơ (Ngọc Trục) thạo nghề hàng nan với các sản phẩm: chẻ quang song, đan mũ nan, quạt lá đề, đĩa mây, ép dầu ở Đông Ba (Thượng Cát), làm thừng (Trung Văn), đậu phụ ở Đại Cát (Liên Mạc). Khi thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (cuối thế kỷ XIX), Hà Nội trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của cả nước. Từ xưa nghề rèn ở Hoè Thị (Xuân Phương) đã kéo ra phố Lò Rèn và các cửa ô để sản xuất dao, kéo, lưỡi liềm, lưỡi hái, dao phát bờ,.phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ