Tổng quan nghiên cứu

Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chính thức được thành lập trên cơ sở sáp nhập Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo cùng 3 huyện Châu Thành, Long Đất, Xuyên Mộc thuộc tỉnh Đồng Nai. Với diện tích tự nhiên 200.670 ha và bờ biển dài 156 km, địa phương sở hữu vị thế địa kinh tế - chiến lược quan trọng khi là trung tâm công nghiệp dầu khí hàng đầu cả nước, có sản lượng khai thác dầu thô tăng trưởng vượt bậc từ 40.000 tấn năm 1986 lên 9,6 triệu tấn năm 1997 và vượt mức 20 triệu tấn vào năm 2000. Theo kết quả điều tra dân số năm 1999, toàn tỉnh có 794.000 người với lực lượng trong độ tuổi lao động đạt 398.000 người. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa và mở rộng dịch vụ cảng biển bộc lộ mâu thuẫn lớn giữa nhu cầu nhân lực chất lượng cao với hiện trạng giáo dục; số liệu năm 1998 cho thấy có tới 290.238 lao động, tương đương 87,75% lực lượng lao động thường xuyên, chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình và vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong giai đoạn 1991 - 2000. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm: phân tích đặc điểm kinh tế - xã hội và tiền đề giáo dục trước năm 1991; hệ thống hóa các nghị quyết, chủ trương của Đảng bộ tỉnh qua các nhiệm kỳ Đại hội I (1992) và Đại hội II (1996); đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế của từng bậc học; từ đó đúc kết các bài học kinh nghiệm lịch sử phục vụ phát triển giáo dục giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu bao quát 7 đơn vị hành chính của tỉnh trong khung thời gian 10 năm chuyển đổi kinh tế. Luận văn có ý nghĩa thiết thực trong việc cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách đào tạo, hướng đến mục tiêu nâng tỷ lệ lao động có tay nghề từ mức 12,25% năm 1998 lên đáp ứng nhu cầu của 9 khu công nghiệp tập trung tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người cùng mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận điểm "vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người" cùng quan điểm phát triển nguồn lực con người là động lực trung tâm của sự nghiệp cách mạng giữ vai trò kim chỉ nam xuyên suốt công trình. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng nhất quán các quan điểm chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các kỳ Đại hội VI (1986), Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996) và Đại hội IX (2001), đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1993) và Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (1996) khẳng định giáo dục - đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu.

Mô hình nghiên cứu phân tích sự tác động qua lại giữa 3 trụ cột: sự lãnh đạo chính trị của Đảng bộ cấp tỉnh, hiệu lực quản lý của bộ máy chính quyền địa phương và sự chuyển biến chất lượng của hệ thống giáo dục - đào tạo. Các khái niệm cốt lõi được định nghĩa và vận dụng chặt chẽ gồm: "Quốc sách hàng đầu" trong phân bổ nguồn lực công; "Xã hội hóa giáo dục" theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm; "Chuẩn hóa đội ngũ giáo viên"; và "Phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ" như một chỉ số bảo đảm công bằng an sinh xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác đa tầng từ hệ thống văn kiện chính thống của Trung ương Đảng, Quốc hội (như Nghị quyết 40, 41 Khóa X), các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu các khóa I, II, III, cùng nguồn số liệu thống kê định lượng của Cục Thống kê tỉnh năm 1998, 1999 và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, giúp tái hiện chân thực tiến trình chỉ đạo theo trục thời gian 1991 - 2000 trong bối cảnh địa phương mới thành lập. Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê, tổng hợp và so sánh định lượng đối với cỡ mẫu dữ liệu toàn diện bao trùm 7 đơn vị hành chính (gồm thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa, các huyện Tân Thành, Châu Đức, Long Đất, Xuyên Mộc và Côn Đảo), kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng tại hơn 20 cơ sở giáo dục đại diện cho 3 tiểu vùng: đô thị công nghiệp, nông thôn đồng bằng và hải đảo xa xôi. Việc lựa chọn các phương pháp phân tích này bảo đảm tính khách quan lịch sử, tránh suy diễn chủ quan và đo lường chính xác mức độ tác động của các nghị quyết đối với chuyển biến chất lượng của 330.766 người hoạt động kinh tế thường xuyên. Toàn bộ quy trình thu thập, xử lý và kiểm chứng tài liệu được triển khai đồng bộ trong giai đoạn 2001 - 2004.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học ngay trong những năm đầu đổi mới. Năm 1991, tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 87,4% (tương ứng 14.011 trên tổng số 16.017 trẻ cùng độ tuổi), tỷ lệ học sinh 14 tuổi tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 78% (8.724 học sinh). Trong công tác xóa mù chữ, toàn tỉnh có 864 người từ 15 đến 35 tuổi được xóa mù chữ (đạt tỷ lệ 90,2%), khu vực nông thôn xóa mù thành công cho 118.069 người. Thành phố Vũng Tàu và huyện Côn Đảo trở thành hai địa bàn được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ vào tháng 7 năm 1991.

Thứ hai, mạng lưới cơ sở vật chất trường lớp và quy mô các cấp học phát triển nhanh chóng nhờ chủ trương đa dạng hóa loại hình đào tạo. Địa phương từng bước xóa bỏ tình trạng học 3 ca, mở rộng trường mầm non và phổ thông đến các vùng sâu, vùng căn cứ cách mạng cũ. Tính đến năm 1990, tỷ lệ giáo viên tiểu học đạt chuẩn chuyên môn tăng hơn 67,3% thông qua nỗ lực đào tạo của Trường Trung học Sư phạm Vũng Tàu; chất lượng học tập năm học 1989 - 1990 có bước chuyển rõ rệt với tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng 2,6% và tỷ lệ học sinh yếu kém giảm 3,86% so với năm học 1986 - 1987.

Thứ ba, công tác đào tạo cán bộ và giáo dục chuyên nghiệp từng bước gắn kết với chiến lược phát triển công nghiệp địa phương. Đảng bộ tỉnh đã củng cố hệ thống gồm 13 trường bổ túc văn hóa cấp xã, phường và 5 trường bổ túc văn hóa tập trung, đưa tỷ lệ cán bộ cấp cơ sở hoàn thành cấp II lên trên 70% và hơn 41% cán bộ đạt trình độ cấp III, tạo bước chuẩn bị nhân lực cơ bản cho 9 khu công nghiệp lớn được quy hoạch như Phú Mỹ (1.500 ha) và Mỹ Xuân (hơn 1.100 ha).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến các thành tựu trên xuất phát từ sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy chỉ đạo của Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu, chuyển từ việc xem giáo dục là hoạt động phúc lợi đơn thuần sang nhìn nhận giáo dục là bộ phận cấu thành trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Cơ chế linh hoạt "Nhà nước và nhân dân cùng làm", kết hợp vận động sự hỗ trợ từ doanh nghiệp liên doanh Vietsovpetro và các ngành kinh tế trọng điểm đã giúp giải quyết kịp thời tình trạng thiếu hụt ngân sách đầu tư trường lớp.

Tuy vậy, nghiên cứu đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế lớn về mặt cơ cấu. Khoảng cách phát triển dân trí giữa khu vực đô thị với vùng nông thôn ven biển, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn tồn tại dai dẳng. Điển hình tại xã đảo Long Sơn, năm 1990 vẫn còn tới 2.737 người mù chữ; tỷ lệ mù chữ trong đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 59,9% (1.724 trên 2.877 người). Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục nghề nghiệp chưa theo kịp tốc độ gia tăng công nghiệp hóa; số liệu năm 1998 ghi nhận có 15.146 người không có việc làm, trong đó nhóm không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm tỷ lệ áp đảo lên đến 89,3% (13.525 người).

Về mặt trực quan hóa học thuật, các chỉ số biến động giáo dục và cơ cấu nhân lực trong luận văn có thể được trình bày tối ưu qua biểu đồ cột kép thể hiện tỷ lệ phổ cập tiểu học giữa các giai đoạn và biểu đồ tròn phân tích cơ cấu 330.766 lao động theo trình độ chuyên môn năm 1998 nhằm làm nổi bật tính cấp thiết của việc cải tổ mạng lưới dạy nghề.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường chuẩn hóa và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo các cấp. Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp cùng các trường cao đẳng sư phạm triển khai kế hoạch đào tạo lại, đặt mục tiêu đạt 100% giáo viên tiểu học và trung học cơ sở đạt chuẩn theo quy định trước năm 2005, đồng thời ban hành chính sách phụ cấp thu hút giáo viên công tác tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo.

Thứ hai, tái cơ cấu mạng lưới dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp gắn chặt với quy hoạch 9 khu công nghiệp tập trung (như Phú Mỹ, Mỹ Xuân, Đông Xuyên, Cái Mép). Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đóng vai trò cơ quan điều phối chính, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 12,25% năm 1998 lên 25 - 30% trong giai đoạn 2005 - 2010 thông qua mô hình hợp tác đào tạo theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp cảng biển, dầu khí và dịch vụ du lịch.

Thứ ba, mở rộng quy mô đầu tư ngân sách địa phương và huy động các nguồn lực xã hội hóa cho giáo dục. Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh cần duy trì mức chi tối thiểu 20% tổng chi ngân sách hằng năm cho sự nghiệp giáo dục, hoàn thành kiên cố hóa 100% phòng học, xóa dứt điểm các phòng học tạm tại huyện Châu Đức, Xuyên Mộc và đặc khu Côn Đảo trong lộ trình 3 năm tới.

Thứ tư, xây dựng chính sách hỗ trợ giáo dục đặc thù cho con em đồng bào dân tộc thiểu số và các xã vùng khó khăn. Ban Dân tộc tỉnh phối hợp với chính quyền cấp huyện, xã tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, phấn đấu giải quyết việc làm và đào tạo bổ túc nghề nghiệp cho hơn 15.000 lao động chưa có việc làm ổn định, ngăn chặn dứt điểm tình trạng tái mù chữ tại các vùng ven biển.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý giáo dục và các nhà hoạch định chính sách công cấp tỉnh, huyện. Luận văn cung cấp khung dữ liệu lịch sử xác thực về phương thức giải quyết bài toán thiếu hụt trường lớp và nhân lực trong bối cảnh tái lập địa giới hành chính, giúp các cơ quan vận dụng vào use case xây dựng quy hoạch phát triển mạng lưới giáo dục địa phương 5 năm và 10 năm.

Thứ hai, cán bộ tuyên giáo, giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử Đảng, chính trị học. Công trình là nguồn tài liệu hệ thống hóa toàn diện quá trình cụ thể hóa đường lối đổi mới của Trung ương vào điều kiện một tỉnh công nghiệp dầu khí, phục vụ trực tiếp cho use case biên soạn văn kiện lịch sử Đảng bộ địa phương và giảng dạy chuyên đề lịch sử cách mạng miền Đông Nam Bộ.

Thứ ba, ban giám hiệu các trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp và trung tâm dạy nghề. Đội ngũ lãnh đạo nhà trường có thể khai thác các phân tích về nhu cầu lao động tại các khu công nghiệp trọng điểm để ứng dụng vào use case đổi mới chương trình đào tạo nghề, gắn kết đầu ra của học sinh, sinh viên với thị trường việc làm địa phương.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử, Quản lý giáo dục và Xã hội học. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp nghiên cứu lịch sử với khảo sát điền dã và xử lý số liệu thống kê định lượng về 330.766 lao động, ứng dụng trực tiếp vào use case thực hiện các đề tài nghiên cứu chính sách phát triển nguồn nhân lực vùng kinh tế trọng điểm.

Câu hỏi thường gặp

Khó khăn lớn nhất của giáo dục Bà Rịa - Vũng Tàu khi tái lập tỉnh năm 1991 là gì?
Khó khăn lớn nhất là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cơ cấu nhân lực với yêu cầu công nghiệp hóa dầu khí. Địa bàn sáp nhập rộng, mạng lưới trường lớp xuống cấp, toàn tỉnh còn 7.000 người mù chữ năm 1990 và số liệu năm 1998 cho thấy có 290.238 lao động (87,75%) chưa qua đào tạo kỹ thuật.

Đảng bộ tỉnh đã áp dụng bài học chỉ đạo then chốt nào để tạo bước ngoặt giáo dục?
Đảng bộ tỉnh đã nhất quán quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, gắn chặt việc nâng cao dân trí với chiến lược công nghiệp hóa địa phương. Tỉnh ủy đã linh hoạt vận dụng phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, kết hợp tận dụng sự hỗ trợ của ngành dầu khí để tăng cường nguồn lực cho trường lớp.

Kết quả nổi bật nhất trong công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học là gì?
Thành tựu tiêu biểu là việc đưa thành phố Vũng Tàu và huyện Côn Đảo đạt chuẩn quốc gia về xóa mù chữ, phổ cập tiểu học vào tháng 7 năm 1991. Năm 1991, toàn tỉnh huy động 87,4% trẻ 6 tuổi vào lớp 1 và xóa mù chữ thành công cho 90,2% người trong độ tuổi 15 - 35.

Thực trạng cơ cấu nguồn nhân lực đặt ra yêu cầu cấp bách gì cho công tác dạy nghề?
Năm 1998 toàn tỉnh có 15.146 người thất nghiệp với 89,3% không có chuyên môn, trong khi tỉnh quy hoạch 9 khu công nghiệp như Phú Mỹ (1.500 ha). Thực tế này đòi hỏi ngành giáo dục phải chuyển hướng mạnh mẽ sang mở rộng trường trung cấp nghề và liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng doanh nghiệp.

Luận văn có giá trị đóng góp như thế nào cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương?
Luận văn đã khỏa lấp khoảng trống nghiên cứu khi lần đầu hệ thống hóa toàn diện sự lãnh đạo giáo dục giai đoạn 1991 - 2000. Nguồn tư liệu xác thực từ văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh I, II và số liệu thống kê là căn cứ chuẩn xác để đưa vào chương trình giáo dục lịch sử địa phương.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện, có cơ sở khoa học về quá trình Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong giai đoạn bước ngoặt 1991 - 2000.
  • Khẳng định kỳ tích chuyển biến từ một địa bàn còn hơn 7.000 người mù chữ trở thành điểm sáng phổ cập giáo dục tiểu học của khu vực Đông Nam Bộ ngay từ năm 1991.
  • Đúc kết 5 bài học lịch sử sâu sắc về đổi mới tư duy quản lý, xã hội hóa nguồn lực và gắn kết chặt chẽ đào tạo với phát triển công nghiệp dầu khí, kinh tế biển.
  • Chỉ rõ hạn chế mang tính cơ cấu khi tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 1998 mới đạt 12,25%, tạo tiền đề thực tiễn cho việc ban hành các chính sách đột phá nhân lực.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2005 - 2010 nhằm chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo, tái cơ cấu mạng lưới dạy nghề và ưu tiên vùng hải đảo, căn cứ cách mạng cũ.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Trần Xuân Tĩnh là công trình nghiên cứu công phu, đóng góp nguồn tư liệu lịch sử - thực tiễn phong phú cho việc hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2001 trở đi, các cơ quan ban ngành cần kế thừa các bài học chỉ đạo này để đẩy mạnh chuyển đổi số trường học và phát triển giáo dục chất lượng cao. Các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và độc giả quan tâm có thể khai thác toàn văn tài liệu tại các trung tâm lưu trữ và thư viện chuyên ngành để ứng dụng vào công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử địa phương.