Kỷ yếu các công trình nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng giai đoạn 1999-2000

"Kỷ yếu tổng hợp các công trình nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng giai đoạn 1999-2000, do Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng thực hiện."

Trường đại học

Viện Nghiên Cứu Khoa Học Ngân Hàng

Chuyên ngành

Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Kỷ Yếu

1999-2000

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: NGÂN HÀNG RA ĐỜI LÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN CỦA PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ LƯU THÔNG HÀNG HÓA

1.1. Tích luỹ tiền tệ trong điều kiện tiền vàng và tiền giấy

1.2. Mối quan hệ giữa các hình thức kinh tế với tích luỹ tiền tệ

2. CHƯƠNG II: SỰ TỒN TẠI KHÁCH QUAN CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT VÀ LƯU THÔNG HÀNG HÓA

2.1. Phát triển sản xuất hàng hoá đòi hỏi có một người thủ quỹ chung cho toàn xã hội làm dịch vụ thanh toán, chỉ trả, trung gian tài chính cho các nhà sản xuất cũng như dân chúng

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Kỷ yếu nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng 1999 2000

Cuốn Kỷ yếu nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng 1999-2000 từ Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng là tài liệu quan trọng, ghi lại những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn này. Tài liệu không chỉ cung cấp thông tin về các đề tài nghiên cứu mà còn phản ánh những thách thức và cơ hội mà ngành ngân hàng phải đối mặt trong bối cảnh kinh tế đang thay đổi. Theo lời giới thiệu của Viện trưởng Viện NCKH NH, TS Nguyễn Đức Thảo, cuốn kỷ yếu này nhằm mục đích cung cấp tư liệu cho các cán bộ trong ngành, phục vụ cho công tác quản lý và điều hành hoạt động ngân hàng.

1.1. Mục tiêu và nội dung chính

Mục tiêu chính của cuốn kỷ yếu là tổng hợp và giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu trong giai đoạn 1999-2000. Tài liệu này bao gồm 17 đề tài nghiên cứu cấp ngành, phản ánh những vấn đề quan trọng trong nghiên cứu khoa học và thực tiễn hoạt động ngân hàng. Nội dung của các đề tài này không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn có tính ứng dụng cao, giúp giải quyết những vấn đề thực tiễn trong ngành ngân hàng, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế đất nước.

II. Các vấn đề nghiên cứu nổi bật

Trong cuốn Kỷ yếu nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng 1999-2000, nhiều vấn đề quan trọng đã được đề cập. Một trong số đó là nghiên cứu tài chính ngân hàng, trong đó nhấn mạnh vai trò của ngân hàng trong việc huy động và phân phối vốn. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, ngân hàng không chỉ là nơi gửi tiền mà còn là trung gian quan trọng trong việc kết nối nguồn vốn nhàn rỗi với nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. Điều này giúp thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng, từ đó tạo ra sự phát triển bền vững cho nền kinh tế. Một trích dẫn đáng chú ý từ tài liệu là: "Ngân hàng là cầu nối giữa người cần vốn và người có vốn, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế".

2.1. Nghiên cứu ứng dụng trong thực tiễn

Nhiều đề tài trong kỷ yếu đã được áp dụng vào thực tiễn, giúp cải thiện quy trình hoạt động của các ngân hàng thương mại. Các nghiên cứu về nghiên cứu ứng dụng trong lĩnh vực ngân hàng đã chỉ ra rằng việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý ngân hàng không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn cải thiện dịch vụ khách hàng. Điều này thể hiện rõ qua việc phát triển các dịch vụ ngân hàng điện tử, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng mọi lúc, mọi nơi.

III. Đánh giá giá trị và ứng dụng thực tiễn

Cuốn Kỷ yếu nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng 1999-2000 không chỉ là tài liệu tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu mà còn là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý trong ngành ngân hàng. Giá trị của tài liệu nằm ở việc nó cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nghiên cứu trong ngành ngân hàng, đồng thời chỉ ra những xu hướng và thách thức mà ngành này phải đối mặt. Việc nghiên cứu và ứng dụng các kết quả từ kỷ yếu sẽ giúp các ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.

3.1. Tác động đến chính sách ngân hàng

Kỷ yếu cũng có tác động lớn đến việc xây dựng chính sách ngân hàng. Các nghiên cứu trong tài liệu đã cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc điều chỉnh các chính sách tài chính, nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ngành ngân hàng. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển mạnh mẽ.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

VIEN NGHIEN CUU KHOA HOC NGAN HANG ] ] Ff a ị Tr fh i oT ` a v [me ete li ew fei he BL. Ệ ia Ear: AL LNW Pat ; 7 1999 - 2000 ee ae — NHÀ XUẤT\T BAN B. THONG KE HÀ NỘI - 2000 A Ta VIEN NGHIEN CUU KHOA HOC NGAN HANG “2 re” KY YEU CAc CONG TRINH NGHIEN CUU KHOA HOC NGANH NGAN HANG 1999 - 2000 | HOC VIEI NGAN } ANG } r - ‹ TR'P?R V/Í#- * ì ƒÍ atl W lu cc | —, , | Peat v BL Ít - _—— + 204 _ NHÀ XUẤT BAN THONG KE HA NOI - 2000 —. 52-04- 2000 TK 2000 BD LOI NOI PAU Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TƯ Đảng khoá VI về "Định hướng phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000 trong những năm vừa qua, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Khoa học, Viên NCKH Ngân hàng đã đấy mạnh việc tổ chức triển khai công tác nghiên cứu khoa học trong ngành nhằm góp phần đối mới hoạt động ngân hàng, phục vụ phát triển kinh tế đất nước.

Kết quả nghiên cứu của nhiều đề tài cấp ngành và cấp Viện đã được đưa vào ứng dụng trong thực tế điều hành, quản lý hoạt động và kinh doanh ngân hàng, góp phần giải quyết những đòi hỏi bức xúc cả về lý luận lẫn thực tiễn đã đặt ra cho ngành. Trong quý 1/2000, Viên NCKH Ngân hàng đã cho xuất bản cuốn "KV yếu các công trình NCKH ngành ngân hàng 1995-1999” bước đầu cung cấp cho người đọc kết quả nghiên cứu những đề tài đã được Hội đồng Khoa học ngành nghiệm thu trong khoảng thời gian từ năm 1995 đến hết quý IIJ/1999. Cuốn Kỷ yếu đã được độc giả đánh giá tất cao về nội dung cũng như giá trị thực tiễn của nó. Nhằm mục đích thông tin khoa học cung cấp tư liệu phục vụ cho công tác quản lý, điều hành cũng như hoạt động kinh doanh ngân hàng và công tác nghiên cứu khoa học của các cán bộ trong toàn ngành, Viện NCKH Ngân hàng tiếp tục cho biên soạn cuốn "Kỷ yếu các công trình NCKH ngành ngân hàng 1999 - 2000' giới thiệu nội dung cơ bản của 17 đề tài NCKH cấp ngành và cấp Viện đã hoàn thành và được nghiệm thu từ quý 1/1999 đến cuối năm 2000.

Bạn đọc muốn xem toàn văn của các công trình này xm liên hệ với Thư viện Ngân hàng Trung ương, Thư viện Học viện Ngân hàng hoặc Phòng Quản lý và NCKH - Vién NCKH NH. Xin tran trọng giới thiệu cùng bạn đọc. VIÊN TRƯỞNG VIEN NCKH NH TS NGUYEN DUC THAO LUẬN CỨ KHOA HOC VE SU RA DOI CUA NGAN HANG VA SU TON TAI KHACH QUAN CUA HE THONG NGAN HANG TRONG DIEU KIEN SAN XUAT HANG HOA * Chui nhiém dé tai: TS. Lé Hung Đề tài KNH 95.01 là một phần của chương trình nghiên cứu "Luận cứ khoa học và thực tiễn về hoạt động ngân hàng theo cơ chế thị trường có định hướng, xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam".

Pham vi bả” cứu của đề tài chỉ tập trung vào vấn đề "Sự ra đời và tổn tại khách quan của hệ thống ngân hàng trong điều kiện sẵn xuất hàng hoá". CHƯƠNG |: NGÂN HÀNG RA ĐỜI LÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN CUA PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT VÀ LƯU THÔNG HÀNG HOÁ 1.Tích luỹ tiền tệ trong điểu kiện tiền vàng và tiền giấy 1. Mối quan hệ giữa các hình thức kinh tế voi tich lay tiền tê Trong nền kinh tế vật phẩm, con người thoả mãn nhu cầu của mình chủ yếu dựa vào kết quả lao động bản thân. Mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng tạo thành một vòng tròn khép kín và riêng lẻ.

Quan hệ điễn ra chủ yếu dựa vào con người với tự nhiên. Con người tác động vào thiên nhiên để tạo ra vật phẩm và sự tích luỹ trong bối cảnh nền sản xuất như trên là sự tích luỹ vật phẩm. Sự tích luỹ này đơn thuần chỉ là cho nguồn dự trự dự phòng, không giúp ích gì cho sản xuất. Với sự phân công lao động phát triển dân, nền kinh tế hàng hoá ra đời với các vật phẩm sản xuất chủ yếu để bán hoặc trao đổi.

Mối quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng mở rộng hơn, mang tính chất xã hội rõ rệt. ' Tích luỹ là một hành vi được thúc đẩy bởi nhu cầu phát triển sản xuất. Do đó, tuy cùng có nhu cầu tích luỹ để phát triển sản xuất nhưng mức độ quy mô, nhu cầu tích luỹ trong các giai đoạn là khác nhau. Quy mô tích luỹ khác nhau sẽ tác động trở lại với những mức độ khác nhau đối với sản xuất.

Tích luỹ trong nền sản xuất hàng hoá là tích luỹ giá trị ngày càng tăng lên. Tiền tệ là sản phẩm tất yếu của nên kinh tế hàng hoá, là động lực * DE TAI KNH 95-03.01 thúc đấy phát triển sản xuất và lưu thông hang hoa hoá Nền sản xuất hàng hoá phát triển đến một mức độ nhất định thì hàng chuyển hoá thành tiền tệ. Tiền tệ là một sản phẩm tất yếu của nền sản xuất hàng của sản xuất hóa. Nó ra đời là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển lâu dài và trao đổi hàng hoá, của sự /ôf xác qua nhiều hình thái giá trị.

trị Lịch sử loài người đã trải qua những hình thái giá trị sau: hình thái giá thái giá trị giản đơn, ngẫu nhiên; hình thái giá trị mở rộng hay đầy đủ và hình chung. ` A2 các Chính trong hình thái giá trị chung, vật ngang giả chung được dùng để sees : ^ 7 z ` hàng hoá khác biểu hiện giá trị của mình. Ban đầu, mỗi vùng có một vật ngang yếu là các vật giá chung. Nhu cầu trao đổi ngày càng mở rộng và dẫn đến một tất như vâng, bạc đã ngang gia chung nay đấu tranh, bài trừ lẫn nhau.

Các kim loại tất cả chiến thắng trong cuộc đấu tranh này, trở thành vật ngang giá chung cho tiên tệ đã được xác các hàng hoá. Sau những lần lột xác như vậy hình thái giá trị làm cho thế lập. Vàng là hình thái tiền tệ được suy tôn trong xã hội. Tiền tệ ra đời và bên cực giới hàng hoá phân ra làm hai cực.

Một cực là hàng hoá thông thường giá chung kia là loại hàng hoá đặc biệt. Hàng hoá tiền tệ với tư cách là vật ngang giữa những cho tất cả hàng hoá khác. Tiền tệ là sự biểu hiện mối quan hệ xã hội người sản xuất hàng hoá.Mac, tiền tệ có năm chức năng: thước đo giá trị phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, phương tiện thanh toán, tiền tệ thế giới. Tích luý tiền tê trong điểu kiện tiên vàng và tiền giẤy ` z 4 A sản Sự tích tụ, tập trung một lượng tien tuong ung vol qui mo phát triển aA + Ae.

z ^ được thực xuất là điều kiện căn bản để đảm bao cho qui mô sản xuất hàng hoá đó hiện, là sự cân bằng cần thiết giữa tiết kiệm và đầu tư. « Tích luỹ và đầu tư: tăng - Tích luỹ thực chất là dành một phần thu nhập ròng để bổ sung làm cá nhân thêm: vốn đầu tư sinh lợi. Chủ thể tích luỹ vốn có thể là đoanh nghiệp, cùng là trong xã hội. Tích luỹ bao gồm tích luỹ đầu tư sinh lợi với mục đích cuối lợi nhuận và tích luỹ của cải.

^ x - Đầu tư có thể xem là hoạt động sinh lợi, như đưa vao sân xuất một mặt - : > A“ À Z n ` hàng mới, mua các chứng khoán, gửi tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng. - Tích luỹ và đầu tư có sự liên quan với nhau và vốn đầu tư phải tăng dần lên tương ứng với nguồn vốn tích luỹ. « Tích luỹ trong điều kiện tiền vàng và tiền giấy: cảng Sản xuất hàng hoá luôn đòi hỏi phải có vốn.Nền sản z xuấtin hàng2 hoá? : A“ z ` của sân xuất phát triển cao đòi hỏi cảng phải có vốn lớn và chính sự phát triển Nó 2- ` 2+ z ^“ z ` z cà Un hang hoa lai tao diéu kién dé tích luỹ vốn ngày cảng cao hon.-Dut tich luỹ trong điều kiện tiền vàng hay tiền giấy, quá trình tích luỹ đều phải diễn ra như trên. Tuy nhiên, tích luỹ trong điều kiện tiền vàng là sự tích lũy giá trị thực.

Tích luỹ trọng điều kiện tiền giấy, tiền kí hiệu, tiền ghi sổ và trong nền sản xuất hiện đại đó là sự tích luỹ tiền ký hiệu giá trị. Tích luỹ trong điều kiện tiền giấy có khả năng tạo sự tích luỹ nhanh chóng, to lớn hơn, đễ dàng hơn. Nhưng tích luỹ tiền giấy là sự tích luỹ giá trị danh nghĩa, dễ bị mất giá trong nền kinh tế có lạm phát cao. Sự phát triển san xuất và lưu thông hàng hoá đòi hỗi phải có ngân hàng 21.

Sự phát triển sản xuất hàng hoá với qui mô lón đòi hỏi thanh toán không dùng tiên mặt ngảy cảng lớn Trải qua các giai đoạn lịch sử phát triển kinh tế, con người đã có những hình thức thanh toán cơ bản trong trao đổi như sau: - Trao đổi thanh toán trực tiếp dùng hàng đổi hàng. Mọi người thanh toán trực tiếp với nhau, hàng vừa là mục tiêu, vừa là phương tiện trong trao đổi. - Hệ thống thanh toán đựa vào kim loại (chủ yếu là vàng): tiền tệ xuất hiện dưới dạng kim loại quý và được mọi người chấp nhận trong thanh toán. Tiền vàng đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá.

Nhưng vàng cũng có nhược điểm của nó là việc chuyên chở rất nặng nề và rất khó phân chia thành đơn vị nhỏ. ˆ - Hệ thống thanh toán đựa trên cơ sở tiển giấy: với tiền giấy người ta không còn quan tâm đến chất của tiền, không phải phân chia thành những đơn vị nhỏ nữa. Lúc này họ chỉ có lưu ý xem đó là tiền thật hay tiền giả. Tuy nhiên tiền giấy cũng gặp phải khó khăn như tiển vàng trong vấn để chuyên chở va tiêu dùng cần phải giữ cẩn thận.

- Nhu cầu của lưu thông trao đổi hàng hoá ngày càng lớn, hệ thống thanh toán cũng không ngừng phát triển. Séc ra đời đánh dấu một bước phát triển mới của hệ thống thanh toán. Séc ra đời cho phép người ta thực hiện việc thanh toán nhanh chóng hơn, chính xác hơn, thuận tiện hơn bởi lẽ séc là phương tiện không dùng tiền mặt, nó cho phép chuyển dịch một số lượng tién lớn từ nơi này đến nơi khác với chi phí lưu thông rất rẻ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kỷ yếu nghiên cứu khoa học ngành ngân hàng 1999-2000 từ Viện Nghiên cứu Khoa học Ngân hàng" cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn này. Nó không chỉ ghi lại những thành tựu nghiên cứu mà còn phân tích các xu hướng và thách thức mà ngành ngân hàng phải đối mặt. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin quý giá về các phương pháp nghiên cứu, kết quả đạt được và những khuyến nghị cho tương lai, từ đó có thể áp dụng vào thực tiễn hoặc nghiên cứu sâu hơn.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức của mình về các lĩnh vực liên quan, hãy tham khảo thêm tài liệu tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, nơi bạn có thể tìm hiểu về các nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực ngân hàng và tài chính. Bên cạnh đó, tài liệu luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh thái bình cũng cung cấp cái nhìn về các vấn đề pháp lý có thể ảnh hưởng đến ngành ngân hàng. Cuối cùng, tài liệu luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng sẽ giúp bạn tìm ra những giải pháp thực tiễn để cải thiện hiệu quả trong nghiên cứu và ứng dụng trong ngành ngân hàng.