Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số quan điểm về trồng rừng đô thị Trồng rừng đô thị bao gồm các dãy cây đường phố, cây trong công viên, vành đai xanh giữa thành phố, ngay cả các khu rừng ở ngoại ô thành phố. Rừng đô thị là các khu rừng thuộc các hệ sinh thái như hệ sinh thái ngập nước ven sông rạch, hệ sinh thái úng phèn, hệ sinh thái ngập mặn, hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới…chung quanh thành phố thuộc sở hữu công cộng hoặc của tư nhân. Trồng rừng đô thị không chỉ cây trên đường phố, mà còn trên các bãi đậu xe, sân trường, các công viên trung tâm thành phố, cây ven sông rạch, các khu thương mại và khu công nghiệp, nghĩa trang và các trục giao thông.
Trồng rừng đô thị bao gồm mọi loài cây, mọi kích cỡ từ những cây cao to đến những cây bụi, thảm cỏ; từ những cây mọc tập trung đến cây mọc đơn lẽ trên đất công hoặc đất tư. Trồng rừng đô thị hoạt động như một chức năng sinh thái cung cấp các dịch vụ như làm trong sạch không khí và nước. Cây xanh làm mát và dự trữ nguồn năng lượng cho thành phố; cải thiện chất lượng không khí; làm vững chắc chất lượng nơi ở và kinh tế địa phương; giảm lượng nước mưa chảy trực tiếp đến hệ thống thoát nước; cải thiện những mối quan hệ xã hội; tạo cho mọi người gần gũi nhau hơn. Phân loại cây xanh đô thị Cây xanh đô thị là tập hợp tất cả những loài thảo mộc hiện diện trong đô thị từ cây cỏ trồng dọc đường phố, trong các công viên, vườn hoa, sân vườn các khu ở hay các giàn cây, chậu cảnh trong từng gia đình, rừng phòng hộ và các thực vật phân tán tự nhiên ven sông rạch.
Cây xanh đường phố: Là các dải cây trồng tạo hành lang ngăn cách cho các trục giao thông đồng thời có chức năng tạo bóng mát, ngăn gió bụi, cải tạo 4 môi trường. Đây thường là các cây thân mộc lớn, sống lâu năm, có độ che phủ cao. Cây xanh công cộng: là những cây được trồng tại các công viên, vườn hoa tạo thành một quần thể, một mảng xanh lớn. Lựa chọn cho các quần thể khá đa dạng, tùy thuộc theo ý nghĩa hay chủ đề của công trình khu vực.
Cây xanh công trình: trồng trong các khu dân cư, khu công nghiệp hay dịch vụ thương mại, giải trí. Cây xanh đặc biệt: cây ven sông hồ, cây xanh phòng hộ, cách ly, các quần thể hay cá thể cây cổ thụ, cây mang tính văn hóa hoặc tâm linh. Cây cảnh hộ gia đình: đây là một thị trường cực kỳ lớn mà bấy lâu nay phát triển khá tự nhiên, chưa được nghiên cứu hay định hướng. Nguồn cung cấp cây xanh trồng rừng đô thị Các khu vực trồng cây xanh do Cty Công Viên Cây Xanh quản lý, hiện có 3 vườn ươm trồng, chăm sóc, bứng bó bầu và cung cấp cây xanh đồng cho thành phố Hồ Chí Minh: - Vườn ươm Tam Tân – Củ Chi : diện tích trồng cây 46ha - Vườn ươm Hiệp Thành – Quận 12 : diện tích trồng cây 8,6ha - Vườn ươm Đông Thạnh – Hóc Môn : diện tích trồng cây 45ha 1.
Quan điểm cây xanh đô thị là nguồn tài nguyên dùng chung Với những vai trò và vị trí của mình, cây xanh đường phố nói riêng được coi là một nguồn tài nguyên quan trọng và là một tài nguyên dùng chung và chúng cũng có tính cạnh tranh tốt. Tính cạnh tranh này trong bối cảnh đô thị là kết quả của sự cạnh tranh sử dụng các không gian cây xanh và cạnh tranh ưu đãi về các cây xanh đường phố. Sự gia tăng sử dụng vỉa hè hoặc sự phát triển các công trình xây dựng dẫn đến tính cạnh tranh với các không gian mà cây cần để phát triển. Hơn nữa, các hoạt động của con người trên vỉa hè là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc loại bỏ các cây xanh đường phố.
Cây xanh cũng được đề cập liên quan đến việc đáp ứng với vấn đề an toàn công cộng hoặc khi chúng can thiệp vào các tiện ích công cộng – là những giá trị mang tính xã hội và kinh tế. Từ đó, chúng ta nhận ra tính bền vững từ giá trị cây xanh đô thị. 5 Đây là nguyên nhân dẫn tới quan điểm phát triển bền vững trong quản lý cây xanh đô thị. Quan điểm quản lý cây xanh đô thị bền vững Duy trì cây xanh đô thị là quản lý nguồn tài nguyên này để đáp ứng các nhu cầu hiện tại và của các thế hệ tương lai bằng cách quản lý hệ thống để duy trì sản xuất dịch vụ hệ sinh thái theo không gian và thời gian.
Đối với hệ thống cây xanh đô thị, phát triển bền vững là tập trung vào những lợi ích ròng của cây ở mức độ rộng và đòi hỏi phải có một tập hợp các hoạt động quản lý từ cây đơn lẻ đến toàn hệ thống cây xanh đô thị trong một khu vực đô thị. Đặc điểm khu vực nghiên cứu 1. Điều kiện tự nhiên Hình 1. Bản đồ thành phố Hồ Chí Minh (http://datsohongbinhduong.com/ban-do-tp-hcm/) 6 1.
Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tọa độ địa lý khoảng 10o 10' – 10o 38’ vĩ độ Bắc và 1060 22'– 106054' kinh độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Với tổng diện tích hơn 2.095 km2, thành phố được phân chia thành 19 quận và 5 huyện với 322 phường-xã, thị trấn. Địa hình Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở đồng bằng hạ lưu sông Đồng Nai – Sài Gòn, giữa khu vực chuyển tiếp từ cự Nam Trung Bộ sang đồng bằng sông Cửu Long.
Về mặt địa hình, thành phố có 2 đặc điểm chủ yếu sau: - Đây là địa hình đồng bằng thấp (nơi caonhất không vượt quá 40 m, nhiều chỗ còn thấp trũng), bề mặt tương đối bằng phẳng và bị chia cắt bởi mạng lưới sông ngòi, kênh rạch dày đặc. - Địa hình có xu hướng thấp dần từ tây bắc xuống đông nam, nhưng độ dốc nhỏ. Do nằm vị trí chuyển tiếp giữa vùng đồi và đồng bằng nên địa hình của thành phố có nhiều kiểu với nguồn gốc hình thành khác nhau. Trước hết là địa hình đồi bốc mòn, được phân bố nhiều nhất ở khu vực Long Bình quận Thủ Đức.
Đặc trưng cho dạng địa hình này là các đồi hình bát úp,đỉnh tròn, sườn thoải với độ cao từ 20-25m, bề mặt bị phong hóa mạnh, tạo nên lớp vỏ phong hóa tương đối dày và dễ bị bóc mòn, rửa trôi. Tiếp theo là địa hình đồng bằng thềm với 3 bậc khác nhau. Thềm bậc 1 phân bố ở Bình Chánh, Đông Hóc Môn, Nam Củ Chi, Thủ Đức và toàn bộ huyện Nhà Bè với độ cao trung bình 1 m được cấu tạo bởi trầm tích hỗn hợp sông và biển. Thềm bậc 2 phân bố củ yếu ở phái tây nội thành và chạy dọc theo thung lũng sông thuộc huyện Củ Chi, độ cao trung bình tăng dần từ nội thành (3 – 3,5m) ra đến Củ Chi (6 – 8m).
Vật liệu chính tạo nên dạng địa hình này là trầm tích sét bột có nguồn gốc hỗn hợp sông – biển. Thềm bậc 3 có độ cao khác nhau 7 tùy từng khu vực, từ 5 – 10m ở Hóc Môn cho đến 10 – 25m ở Củ Chi, một phần thủ đức và được tạo nên bởi trầm tích cuộn sỏi, cát sét, cát bột. Ngoài ra, ở Thành phố Hồ Chí Minh còn có dạng địa hình đồng bằng đầm lầy kéo dài từ Thái Mỹ đến nông trường Lê Minh Xuân; địa hình bãi bồi đầm lầy sú vẹt phần lớn tập trung ở huyện cần giờ với độ cao 0,5 – 1,0m và địa hình giồng cát ven biển.4 Khí hậu Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng hậu nhiệt đới gió mùa mang tính chất cận xích đạo. Lượng bức xạ tương đối lớn, đạt trung bình khoảng 140 kcal/ cm2/năm.
Số giờ nắng trung bình trong ngày là gần 6 giờ. Nền nhiệt khá cao và ổn định với nhiệt độ bình quân hàng năm là 27,50C. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp, từ 2 – 300C. Khí hậu của Thành phố Hồ Chí Minh chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, còn mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình đạt trên dưới 2.000mm/năm và phân bố không đều theo thời gian. Khoảng 90% lượng mưa trong năm tập trung vào mùa mưa. Theo không gian, lượng mưa có xu hướng tăng dần từ tây nam lên đông bắc. Ở các huyện phía nam và tây nam của thành phố như Cần Giờ, Nhà Bè, Bình Chánh, lượng mưa trung bình năm chỉ dao động trong khoảng 1.400mm; còn các quận nội thành, Thủ Đức, phía bắc huyện Củ chi, lượng mưa thường vượt quá 2.5 Đất đai Theo tài liệu khảo sát thổ nhưỡng, trên địa bàn các huyện và quận ven thành phố Hồ Chí Minh có 6 loại đất chính: - Đất cát: có diện tích 5.182 ha, chiếm 4,19% diện tích vùng khảo sát.
Phân bố ở huyện Cần Giờ. - Đất mặn: với diện tích 19.757 ha, chiếm khoảng 15,99% diện tích vùng khảo sát. Phân bố tập trung ở huyện Cần Giờ. Loại đất này hình thành trên trầm tích sông, biển và đầm lầy biển bị xâm nhập mặn hơi chua ở tầng mặt (pH < 5), các tầng ở dưới ít chua đến trung tính, đạt trị số pH 6,5 - 7 ở độ sâu trên 100cm.
8 - Đất phèn: chủ yếu là đất phèn tiềm tàng, diện tích khoảng 44.535 ha chiếm 36,04% diện tích vùng khảo sát. Phân bố ở các vùng thấp, trũng, tiêu thoát nước kém như: phía Nam huyện Bình Chánh, Nhà Bè, ven sông Đồng Nai, Sài Gòn và phía Bắc huyện Cần Giờ. - Đất phù sa: có diện tích khoảng 20.405 ha, chiếm 16,51% diện tích vùng khảo sát, trong đó loại đất phù sa ngọt chỉ chiếm khoảng 3%. Phân bố chủ yếu ở vùng Nam Bình Chánh và một số nơi ở Củ Chi, Hóc Môn, độ cao khoảng 1,5m.
- Đất xám: có diện tích khoảng 31.255 ha, chiếm khoảng 25,29% diện tích vùng khảo sát. Phân bố chủ yếu trên vùng đất cao, gò ở huyện Củ Chi, huyện Hóc Môn, quận Thủ Đức, quận 9 và phía Bắc huyện Bình Chánh. - Đất đỏ vàng: có diện tích khoảng 2.430 ha, chiếm 1,98% diện tích vùng khảo sát. Phân bố trên vùng gò ở huyện Củ Chi và quận 9, Thủ Đức.
Diện tích còn lại không khảo sát là 85.990 ha, gồm đất phi nông nghiệp (đất ở, chuyên dùng,…) và núi đá 5,4 ha thuộc xã Thạnh An huyện Cần Giờ.