ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, hầu hết các VQG và Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) của Việt Nam đều thực hiện nhiệm vụ bảo tồn nguồn tài nguyên động v t, thực v t hiện có. Đối với công tác bảo tồn đa dạng thực v t, các diện tích đất trống, rừng khoanh nuôi sẽ được đưa vào trồng mới và bổ trồng sung. Trước tình trạng diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp, ngành lâm nghiệp nước ta cũng đã xác định các loài cây trồng rừng chủ yếu cho các vùng sinh thái, lên danh mục các loài thực v t rừng bản địa để bảo tồn nguồn gen cây rừng.
Đối với rừng tự nhiên tại Vườn quốc gia (VQG) Côn Đảo, loài cây Găng néo (Manilkara hexandra Dub.) thuộc họ Sến (Sapotaceae) là cây gỗ bản địa đặc trưng, đã và đang có yêu cầu được bảo tồn và phát triển tại nơi sinh sống tự nhiên của chúng. Cây Găng néo là loài cây bản địa của vùng, được biết đến là một trong số loài cây gỗ tồn tại trên l p địa khô hạn, nghèo kiệt và khó khăn. Tuy nhiên, đây là loài cây có biên độ sinh thái đặc trưng của vùng đất cát ven biển. Tại VQG Côn Đảo, cây Găng néo phân bố rải rác trên nhiều kiểu rừng, nhưng t p trung nhiều nhất tại núi Con Ngựa, thuộc tiểu khu 55B.
Cây Găng néo loài cây gỗ lớn, tán đẹp thường xanh, quả Găng néo thu hút nhiều loài chim thú rừng về ăn quả theo mùa vụ, sản phẩm gỗ Găng néo được người dân Côn Đảo sử dụng làm trang trí nội thất, đặc biệt là các mặt hàng dùng cho trang xuất mỹ nghệ như g y Đầu Rồng là sản phẩm truyền thống của người dân Côn Đảo. Hiện tại, VQG Côn Đảo đã thực hiện nhiều chương trình bảo tồn động thực v t, nhưng vẫn chưa đạt đến mức cần thiết về mức độ phong phú loài cây trồng. Với ý nghĩa thực tế đó, việc nghiên cứu kỹ thu t trồng cây Găng néo (Manilkara hexandra Dula) phục vụ công tác bảo tồn loài cây này tại VQG Côn Đảo là hết sức cần thiết, có vai trò quan trọng trong hiện tại và tương lai. Để làm được việc đó, bước đầu nhất thiết phải nghiên cứu các đặc điểm lâm học của loài cây và chọn ra được cây mẹ có đặc điểm tốt nhất để thu hái hạt, phục vụ cho công tác nhân giống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 và trồng rừng.
Việc gieo ươm thành công cây con Găng néo, quan trọng là phải có những hiểu biết đầy đủ về những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con trong giai đoạn vườn ươm. Chất lượng cây con đem trồng rừng phụ thuộc vào chất lượng hạt giống và kỹ thu t chăm sóc cây con, trong đó chế độ che sáng và bón phân là một trong những nhân tố quyết định. Tuy v y, hiện nay chưa có tài liệu nghiên cứu một cách bài bản về nhân giống và gây trồng loài cây Găng néo. Vì v y, việc thực hiện đề tài: Nghiên cứu kỹ thuật trồng cây Găng néo (Manilkara hexandra Dula.) phục vụ công tác bảo tồn tại VQG Côn Đảo” là cần thiết.
Đây là một trong những tiếp c n nghiên cứu góp phần thiết thực vào việc bổ sung và cung cấp những thông tin mới về đặc điểm phân bố, hạt giống, đặc điểm v t h u, tái sinh tự nhiên về loài cây Găng néo. Mục đích đề tài Đề tài Nghiên cứu kỹ thu t trồng cây Găng néo (Manilkara hexandra Dula.) Tìm hiểu đặc điểm sinh thái của cây Găng néo trong giai đoạn đầu, có cơ sở tìm ra biện pháp trồng, chăm sóc hợp lý cho cây con đạt năng suất chất lượng cao, đồng thời phục vụ trồng rừng có quy mô lớn nhằm mục đích bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa. Ý nghĩa của đề tài Chọn được loài cây trồng có biên độ sinh thái đặc trưng của vùng đất ven biển, làm tài liệu phục vụ nghiên cứu chi tiết về đặc điểm giống trồng rừng cho lòai cây này ở phạm vi địa phương cũng như tầm quốc gia. Tìm hiểu đặc điểm sinh thái của cây Găng néo trong giai đoạn đầu để có cơ sở tìm ra biện pháp trồng, chăm sóc hợp lý cho cây con nhằm đạt năng suất và chất lượng cao.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nhân tố ảnh hƣởng tới sinh trƣởng cây con giai đoạn vƣờn ƣơm Trong vườn ươm, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con như: nguồn gốc cây con, chế độ tưới nước, giá thể, ánh sáng, các loại bệnh hại và cỏ dại…Các yếu tố này tác động lên sinh trưởng của cây theo nhiều chiều hướng khác nhau và cường độ khác nhau. Theo mục tiêu đề tài, phần trình bày t p trung vào ảnh hưởng của ánh sáng và chất dinh dưỡng tới sinh trưởng của cây con. Ánh sáng là một nhân tố rất quan trọng quyết định quá trình sinh trưởng của cây.
Thực v t luôn cần ánh sáng để quang hợp, từ đó tạo ra các chất hữu cơ nuôi sống cây. Tuy nhiên, do bản chất của từng loài mà mỗi loài cây cần số lượng và cường độ chiếu sáng khác nhau. Ngay trong cùng một loài, ở các giai đoạn phát triển cũng cần lượng ánh sáng không giống nhau. Cây Găng néo cũng như đa số loài cây khác, khi còn trong giai đoạn nhỏ tuổi thì lượng ánh sáng có thể chỉ cần ở mức độ nhẹ.
Thí nghiệm che sáng với cây con là để giải đáp vấn đề này. Phân bón là các chất hữu cơ hoặc vô cơ chứa các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng, được bón trực tiếp vào đất hoặc hoà lẫn vào nướcrồi phun (bón trực tiếp). Phân bón cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống của thực v t nói chung và cây Găng néo nói riêng. Nó không những có tác dụng làm cho cây sinh trưởng nhanh mà còn là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển cơ thể thực v t.
Việc kết hợp cân đối các nguồn phân, khả năng cung cấp của đất, giống cây trồng, điều kiện thời tiết thích hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất, bảo vệ môi trường sinh thái bền vững. Do đó, phân bón là một thành phần không thể thiếu trong ruột bầu, nguồn cung cấp dinh dưỡng gần như là duy nhất cho cây con trong bầu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Về lý thuyết, dinh dưỡng đối với thực v t là rất cần thiết giúp cây sinh trưởng phát triển mạnh. Đặc biệt trong giai đoạn vườn ươm, phân hữu cơ, đạm (N), lân (P), kali (K) là những chất tối ưu cần thiết nhất cho cây.
Cây trồng cần cung cấp các chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, lượng dinh dưỡng trong đất có thể không đủ cung cấp cho cây trồng, do đó phải bón phân bổ sung. Vì thế, đóng ruột bầu sao cho có thể cung cấp được chất dinh duỡng cũng là vấn đề nghiên cứu với từng loài cây trồng cụ thể, nhất là trong giai đoạn vườn ươm. Những loài cây bản địa chủ yếu đƣợc gây trồng Ở nước ta, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về trồng rừng cây gỗ bản địa.
Nhìn chung, khi nghiên cứu trồng rừng cây gỗ, một mặt các nhà nghiên cứu hướng vào xác định những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng của cây con. Những nhân tố được quan tâm nhiều là m t độ trồng, địa hình, loại đất, nguồn nước và bón phân (nếu có). Mặt khác, nhiều nghiên cứu còn hướng vào việc làm rõ tiêu chuẩn cây con đem trồng.Trong số những loài cây bản địa đã và đang được gây trồng ở Việt Nam có một số loài đáng chú ý như sau: Tại các tỉnh phía B c, những loài cây trồng rừng phổ biến và có lịch sử khá dài là các loài Bồ đề (Styrax tonkinesis), Mỡ (Manglietia glauca), Thông nhựa (Pinus merkusii), Quế (Cinnamomum cassia), Hồi (Illicium verum), Trẩu (Vernicia montana; V. fordii) và gần đây là các loài át hoa (Chukrasia tabularis), Sau sau (Liquidamba formosana), Trám tr ng (Canarium alba), Trám đen (C.
- Tại một số tỉnh miền Trung, t p đoàn cây trồng đơn giản hơn, chủ yếu là các loài có khả năng cho gỗ lớn như Hu nh (Tarrietia javannica), Giổi (Michelia mediocris; M. Hiện tại, một số loài mới như Giáng hương (Pterocarpus pendatus), Gõ (Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia bariensis), Sao đen (Hopea odorata), Sến trung (Homalium hainannensis), Gió bầu (Aquilaria crassna). cũng đã được đưa vào trồng ở vùng này. Vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, rừng trồng mới chỉ được chú ý trong vài th p k gần đây.
Một số loài chủ yếu được trồng rừng là các loài thuộc cây họ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Dầu (Dipterocarpaceae), Thông ba lá (Pinuskeisya), Bời lời đỏ (Litsea glutinosa), Gió bầu (Aquilaria crassna ) và một vài loài cho gỗ quí khác. Những kết quả trên đã cho thấy, cây Găng néo không có trong danh sách cây trồng chính, cũng không phải là loài bản địa được gây trồng một cách phổ biến. Những nghiên cứu liên quan về gieo ƣơm và trồng rừng tại nƣớc ta Ở Việt Nam, từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về gieo ươm cây gỗ. Nhìn chung, khi nghiên cứu gieo ươm cây gỗ, một mặt các nhà nghiên cứu hướng vào xác định những nhân tố sinh thái có ảnh hưởng quyết định đến sinh trưởng của cây con.
Những nhân tố được quan tâm nhiều là ánh sáng, đất, hỗn hợp ruột bầu, chế độ nước và kích thước bầu. Mặt khác, nhiều nghiên cứu còn hướng vào việc làm rõ tiêu chuẩn cây con đem trồng. Năm 2000, Hoàng Công Đãng trong lu n văn tiến sỹ đã đề c p đến ảnh hưỏng của một số nhân tố sinh thái đến sinh trưởng và sinh khối của loài cây bần chua, trong đó tác giả đã nghiên cứu tác động riêng lẽ của từng loại phân NPK đến sinh trưởng và chất lượng cây con bần chua… Những nghiên cứu về ảnh hưởng kích thước bầu đến sinh trưởng của cây gỗ non cũng được nhiều tác giả quan tâm. Theo Nguyễn Tuấn Bình (2002), kích thước bầu thích hợp cho gieo ươm Dầu song nàng là 20 x 30 cm, đục 8 -10 lỗ.
Để thăm dò phản ứng của cây con Thúi Đồng Nai với phân bón, Nguyễn Xuân Hợi (2005) đã bón lót super lân, NPK, với t lệ từ 0- 3% so với trọng lượng ruột bầu.