Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn tại Việt Nam, việc thuần dưỡng và phát triển chăn nuôi các loài động vật hoang dã có giá trị kinh tế cao đang trở thành một hướng đi giúp đa dạng hóa sinh kế, tăng thu nhập cho người dân và giảm áp lực khai thác tài nguyên thiên nhiên. Loài Hươu sao (Cervus nippon Temminck, 1838) là loài thú móng guốc quý hiếm, hiện đã được xếp vào nhóm động vật tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW - Extinct in the Wild) theo Sách Đỏ Việt Nam (2007). Sự tồn tại và phát triển của loài hiện nay phụ thuộc hoàn toàn vào các quần thể nhân nuôi bảo tồn và chăn nuôi sinh sản tại các trang trại, hộ gia đình.
Các sản phẩm từ Hươu sao mang lại giá trị kinh tế rất lớn, tiêu biểu nhất là nhung hươu (lộc nhung) với nhiều hoạt tính sinh học dùng làm dược liệu bồi bổ cơ thể, tăng cường thể lực, hỗ trợ tiêu hóa, làm lành vết thương và thúc đẩy chuyển hóa. Ngoài ra, các phụ phẩm như da, gân, đuôi và tiết hươu cũng được khai thác thương mại. Tại Việt Nam, nghề nuôi hươu sao lấy nhung đã hình thành và phát triển qua nhiều thập kỷ tại các địa phương như Hương Sơn (Hà Tĩnh), Quỳnh Lưu (Nghệ An), Cát Bà (Hải Phòng), Bố Trạch (Quảng Bình), Ba Vì (Hà Nội) và Cúc Phương (Ninh Bình). Tại xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình – địa bàn vùng đệm có điều kiện tự nhiên ôn hòa và nguồn thức ăn tự nhiên phong phú – nghề nuôi Hươu sao được xác định là hướng phát triển kinh tế trọng điểm của các nông hộ. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi tại đây chủ yếu mang tính tự phát, dựa vào kinh nghiệm truyền miệng, thiếu quy chuẩn đồng bộ về thiết kế chuồng trại, chưa tối ưu hóa cơ cấu dinh dưỡng và chưa nắm bắt đầy đủ các đặc tính sinh học, tập tính của loài trong điều kiện giam giữ.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Ma Vĩnh Tích đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu kỹ thuật nhân nuôi và thành phần thức ăn Hươu sao (Cervus nippon Temminck, 1838) ở xã Cúc Phương, Ninh Bình” dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Hải Hà tại Khoa Quản lý Tài nguyên Rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là góp phần phát triển nghề nhân nuôi động vật hoang dã ở Việt Nam nhằm nâng cao thu nhập của người dân và hỗ trợ công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Bốn mục tiêu cụ thể được xác định gồm:
- Bổ sung các đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của Hươu sao trong điều kiện nuôi nhốt.
- Nghiên cứu và xác định thành phần thức ăn của Hươu sao trong điều kiện nhân nuôi.
- Hoàn thiện kỹ thuật nhân nuôi Hươu sao phù hợp với quy mô hộ gia đình.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả nhân nuôi Hươu sao tại địa phương.
Khóa luận triển khai 4 nội dung nghiên cứu tương ứng:
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính của Hươu sao trong điều kiện nuôi nhốt.
- Nghiên cứu thành phần thức ăn và lượng thức ăn tiêu thụ của Hươu sao trong môi trường nuôi nhốt.
- Đánh giá, phân tích hiện trạng kỹ thuật tạo chuồng nuôi Hươu sao quy mô hộ gia đình và tại cơ sở bảo tồn.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng nhân nuôi Hươu sao.
Đối tượng nghiên cứu là loài Hươu sao (Cervus nippon Temminck, 1838) đang được nuôi nhốt tại các nông hộ và Trung tâm cứu hộ, bảo tồn sinh vật. Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại địa bàn xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình (tập trung khảo sát tại các thôn Nga Ba, Bãi Cả, Nga Hai và Trung tâm cứu hộ và bảo tồn sinh vật Vườn quốc gia Cúc Phương). Phạm vi thời gian thực hiện đề tài diễn ra từ ngày 07/02/2015 đến ngày 10/05/2015, trong đó các đợt theo dõi thực nghiệm chuyên sâu về tập tính và khẩu phần thức ăn được tiến hành liên tục từ ngày 26/03/2015 đến ngày 01/04/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng phân loại học động vật rừng, lý thuyết quản lý và nhân nuôi động vật hoang dã, kết hợp các quy chuẩn phân hạng cấp độ đe dọa theo Sách Đỏ Việt Nam (2007). Khung lý thuyết kế thừa các công trình nghiên cứu về hươu sao của Lê Hiền Hảo và Trần Hải (1970) tại Vườn Bách Thảo Hà Nội; các chỉ dẫn chọn giống của Vũ Ngọc Tân (1987) và Nguyễn Quỳnh Anh (1996); các nghiên cứu về đặc điểm sinh học và tập tính hoang dã của Lê Minh Sắt (1994); khảo sát mô hình chuồng trại nông hộ của Trình Công Thành và Võ Đình Sơn (1996); cùng các tài liệu chuyển giao từ Dự án BIODIA (Viện Chăn nuôi, 2005–2007) tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Khóa luận cũng tổng hợp số liệu tổng quan của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) về lịch sử chăn nuôi hươu tại Trung Quốc, New Zealand, Na Uy, Anh, Mỹ, Canada và Hàn Quốc.
Tác giả đã phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu thực địa và thực nghiệm sinh học chuyên ngành:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập, chọn lọc và phân tích dữ liệu thứ cấp từ các giáo trình chuyên khảo, kỷ yếu hội nghị, báo cáo thống kê của địa phương, tạp chí khoa học và các dự án điều tra về loài Hươu sao trong và ngoài nước.
- Phương pháp điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên sâu: Sử dụng phiếu điều tra bán cấu trúc gồm 13 câu hỏi nghiệp vụ để phỏng vấn trực tiếp 34 hộ gia đình nhân nuôi hươu tại xã Cúc Phương cùng cán bộ kỹ thuật tại Trung tâm cứu hộ và bảo tồn sinh vật Vườn quốc gia Cúc Phương. Nội dung phỏng vấn tập trung vào quy mô đàn giống, kích thước và kết cấu chuồng trại, danh mục cây thức ăn, khẩu phần tiêu thụ hằng ngày, bệnh tật thường gặp, phác đồ điều trị, thị trường xuất bán nhung và hiệu quả kinh tế.
- Phương pháp nghiên cứu loại thức ăn ưa thích: Sử dụng phương pháp thử nghiệm đồng thời nhiều loại thức ăn với khối lượng cung cấp ngang nhau, lặp lại 20 lần thử nghiệm trên các cá thể đại diện. Quan sát và ghi nhận thứ tự ưu tiên chọn ăn đầu tiên và khối lượng thức ăn tiêu thụ nhiều nhất để xác định mức độ ưa thích ($P%$). Thang phân cấp gồm 3 mức: Rất thích ($+++$ khi $P \ge 75%$), Thích ($++$ khi $50% \le P < 75%$) và Bình thường ($+$ khi $P < 50%$).
- Phương pháp xác định lượng thức ăn tiêu thụ: Cung cấp khẩu phần thức ăn xanh và thức ăn tinh với khối lượng cân xác định vào mỗi buổi sáng, tiến hành thu gom và cân đo lượng thức ăn dư thừa vào cùng thời điểm ngày hôm sau. Quá trình theo dõi được thực hiện liên tục trong 7 ngày (từ 26/03/2015 đến 01/04/2015) trên 2 cá thể để tính toán lượng thức ăn tiêu thụ thực tế trung bình theo các điều kiện thời tiết khác nhau.
- Phương pháp quan sát tập tính động vật (Scan sampling): Phân chia hoạt động sống của hươu thành 6 nhóm tập tính chuẩn hóa: ngủ (nằm yên, bất động, mắt nhắm nghiền), nghỉ (nằm hoặc đứng yên, bất động, mắt mở, nhai lại hoặc liếm lông), kiếm ăn (tìm kiếm và nhai thức ăn), ve vãn (con đực trèo lên lưng con cái, cọ xát kích thích), giao phối (cơ quan sinh dục tiếp xúc trực tiếp) và di chuyển (đi lại tự do trong chuồng hoặc sân chơi). Việc quan sát được tiến hành liên tục từ 6h00 đến 22h00 hằng ngày trong 7 ngày, chu kỳ ghi nhận định kỳ 15 phút một lần, tổng cộng thu được 1.234 lượt quan sát trên cả cá thể đực và cái.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề và Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử và tình hình chăn nuôi hươu trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, nghề nuôi hươu lấy thịt và nhung đã xuất hiện cách đây 2.000 năm tại Trung Quốc từ thời nhà Hán; tại New Zealand phát triển chăn nuôi công nghiệp từ năm 1950 với quy mô đạt 1,8–2,2 triệu con trên 5.000 trang trại; tại Hàn Quốc nhu cầu nhung hằng năm đạt trên 200 tấn; tại các nước phương Tây (Mỹ, Đức, Na Uy), hươu được nuôi quy mô lớn chủ yếu để khai thác thịt sạch. Tại Việt Nam, nghề nuôi thuần dưỡng hươu sao bắt đầu từ những năm 1920–1930 tại Nghệ An, Hà Tĩnh. Năm 1964, hươu từ Quỳ Hợp (Nghệ An) được đưa về nuôi tại Vườn quốc gia Cúc Phương, sau đó cung cấp con giống nhân rộng ra Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Ninh. Tác giả tổng thuật các nghiên cứu trong nước về đặc điểm hình thái ngoại hình của con đực, con cái giống tốt, chu kỳ sinh trưởng, tập tính hoang dã và các kết quả nghiên cứu kinh tế kỹ thuật từ Dự án BIODIA.
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội xã Cúc Phương
Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu. Xã Cúc Phương nằm ở phía tây huyện Nho Quan, cách trung tâm huyện 15 km, tiếp giáp tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình. Tổng diện tích tự nhiên của xã là 12.373,51 ha, trong đó đất canh tác chiếm 453,81 ha, đất đồi rừng lâm nghiệp 340 ha, diện tích núi đá vôi 232 ha, phần còn lại là rừng đặc dụng do Vườn quốc gia quản lý. Lịch sử hành chính và biến động dân cư của xã gắn liền với các đợt di dân ra khỏi vùng lõi vườn quốc gia vào các năm 1987, 1990 và đợt dãn dân thành lập thôn Bãi Cả năm 1994. Năm 2009, xã có 680 hộ với 3.200 nhân khẩu, trong đó 96% là đồng bào dân tộc Mường. Địa hình đồi núi thấp xen kẽ thung lũng đá vôi tạo nguồn thức ăn thực vật tự nhiên đa dạng, rất thuận lợi cho nghề nhân nuôi động vật rừng quy mô gia đình.
Chương 3: Mục tiêu, nội dung, phương pháp
Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu, cấu trúc 5 phiếu điều tra và biểu mẫu thống kê chuyên biệt: Mẫu biểu 01 (danh sách hộ nuôi), Phiếu phỏng vấn hộ gia đình (13 câu hỏi), Mẫu biểu 02 (thành phần cây thức ăn), Mẫu biểu 03 (đánh giá mức độ ưa thích thức ăn), Mẫu biểu 04 (theo dõi lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày) và Mẫu biểu 05 (theo dõi tập tính hoạt động 15 phút/lần). Các định nghĩa thao tác về từng hành vi tập tính và công thức tính toán chỉ số ưa thích thức ăn được chuẩn hóa chặt chẽ phục vụ cho công tác thu thập số liệu thực địa.
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 4 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, trình bày toàn bộ số liệu đo đạc thực tế và các phân tích chuyên sâu qua 5 tiểu mục chính:
- Đặc điểm sinh thái, sinh học và hình thái: Xác định khối lượng cơ thể hươu trưởng thành từ 60–80 kg. Hươu đực có 2 sừng phân 2–4 nhánh; thân phủ lông ngắn mịn màu vàng hung với 6–8 hàng chấm trắng sao dọc hai bên thân; dọc sống lưng có vệt xám kéo dài từ gáy; đuôi ngắn viền trắng. Mùa rụng và mọc nhung diễn ra vào tháng 3–4 dương lịch; thời kỳ động dục tập trung vào tháng 8–9; thời gian mang thai 215–235 ngày; đẻ con vào tháng 3–5 năm sau (mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con); thời gian nuôi con bằng sữa mẹ từ 3–4 tháng. Hươu nuôi thường mắc một số bệnh: tiêu chảy, viêm phổi, lở móng do virus và ký sinh trùng đường máu.
- Tập tính trong điều kiện nuôi nhốt: Phân tích dữ liệu 1.234 lượt quan sát cho thấy hươu sao dành nhiều thời gian nhất cho việc nghỉ ngơi (34,36%) và di chuyển (30,71%), tiếp đến là kiếm ăn (22,85%), ngủ (11,35%), ve vãn (0,73%) và chưa ghi nhận hành vi giao phối trực tiếp (0%). Hươu có hai đỉnh vận động mạnh trong ngày: sáng từ 6h00 đến 7h30 và chiều từ 16h00 đến 17h00.
- Hiện trạng và kỹ thuật tạo chuồng nuôi: Thống kê toàn xã Cúc Phương có 3 thôn nuôi hươu tập trung gồm Nga Ba (21 hộ, chiếm 61,7%), Bãi Cả (8 hộ, chiếm 23,5%) và Nga Hai (4 hộ, chiếm 11,8%). Khóa luận tiến hành mổ xẻ chi tiết ưu - nhược điểm của 2 mô hình hộ điển hình (hộ anh Bùi Văn Tuyên nuôi 8 con trên diện tích 360 m²; hộ bác Bùi Quốc Việt nuôi 17 con trên diện tích 150 m²) và mô hình Trung tâm cứu hộ VQG Cúc Phương (nuôi 56 con trên diện tích 600 m² chuồng và 3–5 ha sân bán hoang dã). Từ đó, tác giả thiết kế quy chuẩn mô hình chuồng nuôi hộ gia đình tối ưu.
- Thành phần thức ăn và mức tiêu thụ: Lập danh mục 30 loại thức ăn, phân tích tỷ lệ các bộ phận cây được sử dụng, xác định nhóm thức ăn ưa thích nhất là các loài cây chứa nhựa mủ trắng không độc. Đo đạc thực nghiệm khẩu phần ăn hằng ngày của hươu với mức tiêu thụ trung bình đạt 8,85 kg/cá thể/ngày.
- Giải pháp nâng cao chất lượng nhân nuôi: Đề xuất hệ thống giải pháp tổng hợp về kỹ thuật chuồng trại, chế biến thức ăn dự trữ, hỗ trợ tín dụng ngân hàng, đào tạo tập huấn và thủ tục cấp phép kiểm lâm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp được các dữ liệu định lượng và phát hiện thực nghiệm có giá trị thực tiễn đối với nghề nuôi Hươu sao tại xã Cúc Phương.
Phân bố tần suất các nhóm tập tính của Hươu sao
Dữ liệu quan sát hành vi của đàn hươu thực nghiệm trong 7 ngày liên tục (từ 26/03/2015 đến 01/04/2015) được tổng hợp chi tiết trong bảng dưới đây:
| Ngày theo dõi |
Cá thể |
Ngủ (lượt) |
Nghỉ (lượt) |
Di chuyển (lượt) |
Kiếm ăn (lượt) |
Ve vãn (lượt) |
Giao phối (lượt) |
Tổng cộng (lượt) |
| 26/03/2015 |
Đực |
7 |
28 |
25 |
20 |
2 |
0 |
82 |
|
Cái |
8 |
30 |
26 |
22 |
1 |
0 |
87 |
| 27/03/2015 |
Đực |
10 |
31 |
30 |
18 |
0 |
0 |
89 |
|
Cái |
9 |
33 |
27 |
23 |
1 |
0 |
93 |
| 28/03/2015 |
Đực |
12 |
27 |
24 |
21 |
2 |
0 |
86 |
|
Cái |
9 |
35 |
29 |
19 |
0 |
0 |
92 |
| 29/03/2015 |
Đực |
8 |
32 |
29 |
25 |
1 |
0 |
95 |
|
Cái |
11 |
34 |
30 |
21 |
0 |
0 |
96 |
| 30/03/2015 |
Đực |
10 |
29 |
31 |
19 |
0 |
0 |
89 |
|
Cái |
11 |
27 |
25 |
18 |
1 |
0 |
82 |
| 31/03/2015 |
Đực |
10 |
31 |
26 |
19 |
0 |
0 |
86 |
|
Cái |
12 |
30 |
27 |
18 |
0 |
0 |
87 |
| 01/04/2015 |
Đực |
11 |
29 |
26 |
20 |
0 |
0 |
86 |
|
Cái |
12 |
28 |
24 |
19 |
1 |
0 |
84 |
| Tổng số lượt |
|
140 |
424 |
379 |
282 |
9 |
0 |
1.234 |
| Tần suất TB (%) |
|
11,35% |
34,36% |
30,71% |
22,85% |
0,73% |
0% |
100% |
Thành phần thức ăn và mức độ tiêu thụ
Khóa luận đã ghi nhận và lập danh lục 30 loại thức ăn được hươu sao sử dụng tại Cúc Phương, bao gồm 25 loài thực vật và 5 loại thức ăn chế biến/tinh bột (cháo ngô, cám gạo, thức ăn ủ xanh, thức ăn ủ chua, thức ăn phơi khô):
- Phân loại theo bộ phận sử dụng: 100% các loài cây thực vật được hươu ăn lá (26/26 loài); 34,6% ăn thân (9 loài); 30,8% ăn cành (8 loài); 19,2% ăn hoa (5 loài); 15,4% ăn quả (4 loài); 7,7% ăn củ (2 loài).
- Phân loại theo mức độ ưa thích: Có 9 loại thuộc nhóm rất ưa thích ($+++$, chiếm 29,03%) gồm mít, sung, vả, dướng, sanh, bứa, chua sao, cỏ voi và ngô; 16 loại thuộc nhóm ưa thích ($++$, chiếm 48,39%) gồm ruối, khoai lang, rau muống, hu đay, ngát, sấu, bông bạc, xoan, sắn, thồm lồm, bướm trắng, sến, cháo ngô, cám gạo, thức ăn ủ xanh; 6 loại thuộc nhóm ăn bình thường ($+$, chiếm 22,58%) gồm dâu da xoan, ba soi, găng, giò nếp, thức ăn ủ chua và thức ăn phơi khô.
- Khối lượng tiêu thụ hằng ngày: Thử nghiệm liên tục trong 7 ngày ghi nhận lượng thức ăn tiêu thụ thực tế trung bình là 8,85 kg/cá thể/ngày (dao động từ 8,2 kg vào ngày mưa ẩm đến 9,65 kg vào ngày nắng nóng).
| Ngày thực nghiệm |
Tình trạng thời tiết |
Lượng cho ăn (kg) |
Lượng dư thừa (kg) |
Lượng tiêu thụ thực tế (kg) |
Tiêu thụ bình quân (kg/cá thể) |
| 26/03/2015 |
Nắng ráo |
20,0 |
2,2 |
17,8 |
8,90 |
| 27/03/2015 |
Nắng ráo |
21,0 |
3,0 |
17,0 |
8,50 |
| 28/03/2015 |
Nắng ráo |
22,0 |
5,5 |
16,5 |
8,75 |
| 29/03/2015 |
Có mưa |
18,0 |
1,6 |
16,4 |
8,20 |
| 30/03/2015 |
Nắng nóng |
19,0 |
0,5 |
18,5 |
9,25 |
| 31/03/2015 |
Nắng nóng |
23,0 |
3,7 |
19,3 |
9,65 |
| 01/04/2015 |
Nắng ráo |
22,0 |
4,6 |
17,4 |
8,70 |
| Trung bình |
|
|
|
|
8,85 |
Chuẩn hóa mô hình chuồng nuôi hộ gia đình đề xuất
Từ kết quả khảo sát thực trạng chuồng trại tại hộ anh Bùi Văn Tuyên (360 m² nuôi 8 con, tường gạch bí bách, thiếu sân chơi và cây xanh), hộ bác Bùi Quốc Việt (150 m² nuôi 17 con, quá chật chội, không có rãnh thoát nước, phân lưu cữu 3–4 ngày) và Trung tâm cứu hộ VQG Cúc Phương (sân đất lầy lội khi mưa), tác giả đã chuẩn hóa mô hình chuồng nuôi hộ gia đình:
- Địa điểm và hướng chuồng: Bố trí cách xa nhà ở tối thiểu 10–20 m, gần nguồn nước sạch; chọn hướng Nam hoặc Đông Nam để đón gió mát mùa hè và giữ ấm mùa đông.
- Diện tích quy chuẩn: Diện tích chuồng bình quân tối thiểu từ 5–10 m²/cá thể.
- Thành chuồng: Khuyên dùng vật liệu gỗ bản địa bền chắc để tạo độ thoáng; kích thước cột gỗ 20 × 15 cm; dóng ngang 12 × 10 cm; khoảng cách dóng dưới 1 m là 15 cm, từ 1 m trở lên là 20–25 cm; chiều cao tổng thể thành chuồng 2,0–2,5 m.
- Nền chuồng và đường thoát nước: Lát gạch hoặc đổ bê tông có khía rãnh nhám chống trượt; tạo độ dốc từ 5–10 độ về phía sau; thiết kế đường đi trước chuồng rộng 1,3 m, rãnh thoát nước tiểu rộng 30 cm đấu nối trực tiếp vào hố thu gom; hố ủ phân có kích thước dài 2 m, rộng 2 m, sâu 1–1,5 m có nắp đậy kín và lưới lọc.
- Sân chơi và khu phụ trợ: Hàng rào sân chơi cao 2,5–3,0 m, lát gạch hoặc đầm nện chắc chắn; bắt buộc có cây xanh che mát chiếm 30–50% diện tích sân chơi; bố trí máng ăn chuyên dụng cao ráo, máng uống và máng liếm muối khoáng; bắt buộc có ngăn chuồng cách ly riêng dành cho hươu đực mùa động dục hoặc cá thể nhiễm bệnh.
Hệ thống giải pháp đề xuất
- Về kỹ thuật: Áp dụng phương pháp ủ chua, ủ xanh và phơi khô cỏ/lá cây để chủ động dự trữ thức ăn qua mùa khô rét; định kỳ tẩy giun sán và tiêm phòng các bệnh đường tiêu hóa, viêm phổi, tụ huyết trùng; vệ sinh thu dọn phân hằng ngày.
- Về kinh tế và quản lý: Chính quyền địa phương xã Cúc Phương cần liên kết với các ngân hàng chính sách để hỗ trợ các hộ vay vốn ưu đãi dài hạn; tổ chức 2–3 lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi và sơ chế nhung hằng năm; cơ quan Kiểm lâm sở tại hướng dẫn thủ tục đăng ký trại nuôi, gắn mã số quản lý đàn, cấp giấy phép vận chuyển và chứng nhận nguồn gốc xuất xứ sản phẩm hợp pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ học phần tốt nghiệp đại học với nguồn lực và thời gian nghiên cứu hạn chế (tổng thời gian 3 tháng, thời gian thực nghiệm tập tính và thức ăn diễn ra trong 7 ngày từ 26/03 đến 01/04/2015). Do đó, nghiên cứu còn một số tồn tại:
- Đợt quan sát tập tính diễn ra vào cuối tháng 3 (thời điểm hươu đực mọc nhung và hươu cái nuôi con non), chưa rơi vào mùa sinh sản chính của loài (tháng 8–9) nên chưa ghi nhận và phân tích được hành vi động dục và giao phối trực tiếp ngoài thực địa.
- Việc xác định lượng thức ăn tiêu thụ mới chỉ tiến hành trên 2 cá thể thử nghiệm trong 7 ngày, chưa phản ánh đầy đủ biến động nhu cầu dinh dưỡng theo các giai đoạn sinh lý chuyên biệt (giai đoạn hươu đực nuôi nhung, hươu cái mang thai và hươu nuôi con non).
- Khóa luận mới dừng lại ở việc lập danh lục các loài cây thức ăn theo kinh nghiệm dân gian và quan sát thực nghiệm mức độ ưa thích, chưa tiến hành phân tích sinh hóa định lượng hàm lượng protein, lipid, khoáng chất và xơ trong từng loại lá cây.
Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng:
- Kéo dài thời gian theo dõi tập tính xuyên suốt cả năm để bao quát trọn vẹn chu kỳ sinh sản và thay đổi hành vi giữa các mùa.
- Phân tích định lượng giá trị dinh dưỡng của các loài cây thức ăn bản địa và tối ưu hóa công thức thức ăn tinh bổ sung nhằm nâng cao trọng lượng và hoạt tính dược liệu của nhung hươu.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế chi tiết của mô hình chuồng nuôi đề xuất sau khi ứng dụng thực tế tại các nông hộ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn rõ rệt:
- Đối với sinh viên và học viên chuyên ngành: Là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho sinh viên các ngành Quản lý Tài nguyên Rừng, Bảo tồn Đa dạng Sinh học, Lâm học, Chăn nuôi - Thú y khi nghiên cứu về kỹ thuật thuần dưỡng động vật rừng nguy cấp, phương pháp nghiên cứu tập tính thú lớn (Scan sampling) và thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn nông hộ.
- Đối với cơ quan quản lý và cán bộ khuyến nông, kiểm lâm: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng sổ tay hướng dẫn kỹ thuật nhân nuôi động vật hoang dã hợp pháp, quy hoạch mô hình sinh kế bền vững tại vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương và các khu bảo tồn thiên nhiên có điều kiện tương đồng.
- Đối với các nông hộ và chủ trang trại: Cung cấp chỉ dẫn kỹ thuật cụ thể về kích thước chuồng trại, cách tận dụng các nguồn lá cây rừng bản địa (đặc biệt là các loài cây có nhựa mủ trắng) và quy trình chế biến thức ăn dự trữ, giúp giảm chi phí chăn nuôi và phòng tránh tai nạn thương tích trong đàn hươu.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận ghi nhận đàn Hươu sao tại xã Cúc Phương tập trung tại những thôn nào và quy mô đàn ra sao?
Nghiên cứu ghi nhận hoạt động nuôi hươu sao của xã tập trung tại 3 thôn chính với tổng số 33 hộ được thống kê chi tiết: thôn Nga Ba có 21 hộ (chiếm 61,7% tổng số hộ nuôi của xã), thôn Bãi Cả có 8 hộ (chiếm 23,5%) và thôn Nga Hai có 4 hộ (chiếm 11,8%). Phần lớn các hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ lẻ từ vài cá thể đến dưới 20 cá thể, chủ yếu khai thác lấy nhung và bán con giống.
2. Tần suất hoạt động của Hươu sao trong điều kiện nuôi nhốt phân bổ như thế nào qua theo dõi thực nghiệm?
Qua 1.234 lượt quan sát (15 phút/lần từ 6h00 đến 22h00 trong 7 ngày), hươu sao dành nhiều thời gian nhất cho việc nằm/đứng nghỉ ngơi (chiếm 34,36%), tiếp theo là di chuyển vận động trong chuồng/sân (30,71%), kiếm ăn (22,85%), ngủ (11,35%), hành vi ve vãn (0,73%) và không ghi nhận được lượt giao phối nào (0%) do thời điểm quan sát không thuộc mùa động dục chính.
3. Khẩu phần ăn trung bình của một cá thể Hươu sao mỗi ngày là bao nhiêu và thời tiết ảnh hưởng thế nào đến mức tiêu thụ?
Lượng thức ăn tiêu thụ thực tế bình quân của hươu sao là 8,85 kg/cá thể/ngày. Yếu tố thời tiết ảnh hưởng rõ rệt đến sức ăn: vào những ngày nắng nóng (30–31/03/2015), lượng tiêu thụ tăng cao nhất, đạt từ 9,25 đến 9,65 kg/cá thể; trong khi vào ngày có mưa ẩm (29/03/2015), hươu ăn ít nhất, chỉ đạt 8,20 kg/cá thể.
4. Vì sao Hươu sao rất ưa thích các loại lá cây có nhựa mủ trắng và danh mục gồm những loài tiêu biểu nào?
Khóa luận chỉ ra rằng các loài cây có nhựa mủ trắng không độc kích thích mạnh vị giác và hỗ trợ tốt cho hệ tiêu hóa của động vật nhai lại. Trong 9 loài thực vật được xếp vào cấp rất ưa thích ($+++$, tỷ lệ lựa chọn $\ge 75%$), đa số là các loài cây có mủ trắng bản địa dễ kiếm tại Cúc Phương gồm cây Mít, cây Sung, cây Vả, cây Dướng và cây Sanh.
5. Những nhược điểm kỹ thuật chuồng trại lớn nhất mà khóa luận phát hiện tại các hộ gia đình ở Cúc Phương là gì?
Hai nhược điểm phổ biến nhất là: (1) Chuồng nuôi xây bằng tường gạch quá kín, thiếu độ thông thoáng, nền xi măng trơn trượt hoặc không có rãnh thoát nước tiểu dẫn đến mất vệ sinh; (2) Không thiết kế sân chơi có cây xanh che mát và hoàn toàn thiếu ô chuồng cách ly riêng, dẫn đến tình trạng các cá thể đực húc nhau gây thương tích, tranh giành thức ăn và làm giảm tỷ lệ thụ thai của hươu cái trong mùa sinh sản.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Ma Vĩnh Tích đã giải quyết trọn vẹn các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm phong phú về tập tính sinh học, thành phần thức ăn và mức tiêu thụ dinh dưỡng của loài Hươu sao (Cervus nippon) tại xã Cúc Phương. Công trình đã làm rõ hiện trạng kỹ thuật chăn nuôi tại địa phương, chỉ ra những hạn chế cố hữu trong thiết kế chuồng trại nông hộ và đề xuất thành công mô hình chuồng nuôi bán tự nhiên đạt chuẩn kỹ thuật, phù hợp với điều kiện sinh thái vùng đệm. Đây là tài liệu khoa học có ý nghĩa thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho định hướng phát triển nghề nhân nuôi động vật hoang dã bền vững, góp phần nâng cao đời sống kinh tế của cộng đồng dân cư địa phương đi đôi với mục tiêu bảo tồn nguồn gen loài động vật quý hiếm đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên.