ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc ta đang trong sự nghiệp đổi mới nền kinh tế, công nghiệp phát triển một cách mạnh m đã và đang có những thành tựu đáng kể. Cũng chính nhờ những thành tựu của những năm đổi mới nền công nghiệp đó đã giúp nông nghiệp Việt Nam lên một vị thế mới trên thế giới. Nông nghiệp đã trở thành nơi cung cấp các sản phẩm đầu vào cũng nhƣ nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho công nghiệp. Do nhu cầu thị trƣờng ngày càng cao, việc phát triển chăn nuôi các loài động vật hoang dã có giá trị kinh tế và bảo vệ nguồn tài nguyên động vật là một trong những hƣớng đi mới đem lại lợi ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
Với điều kiện tự nhiên ôn hòa, thuận lợi và sự định hƣớng của tỉnh, huyện, xã Cúc Phƣơng thì việc lựa chọn nhân nuôi Hƣơu sao đƣợc ƣu tiên hàng đầu để phát triển kinh tế hộ gia đình. Ở Việt Nam Hƣơu sao (Cervus nippon Temminck, 1838) là loài đã bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên (Sách Đỏ Việt Nam (2007); xếp cấp đe dọa: EW [1]. Hiện nay, đƣợc chăn nuôi trong các hộ gia đình, trang trại và mang lại kinh tế rất cao. Giá trị đƣợc kể đến đầu tiên là nhung hƣơu có tác dụng tốt đối với sức khỏe con ngƣời: nâng cao thể lực, ăn ngủ tốt hơn, bớt mỏi mệt, chữa vết thƣơng chóng lành, lợi tiểu, tăng nhu động ruột và dạ dày, hỗ trợ tốt đến việc trao đổi chất đạm và mỡ.
Ngoài ra còn rất nhiều bộ phận của Hƣơu sao đƣợc sử dụng nhƣ: da hƣơu, đuôi hƣơu, tiết hƣơu,. và các bộ phận khác sử dụng với các mục đích khác nhau. Vì vậy, ở Việt Nam hiện nay đang có rất nhiều địa phƣơng nhân nuôi Hƣơu sao nhƣ: Hƣơng Sơn (Hà Tĩnh), Bố Trạch (Quảng Bình), Cúc Phƣơng (Ninh Bình), Bá Thƣớc (Thanh Hóa), Cát Bà (Hải Phòng), Sơn Tây (Hà Nội) [5,6,7,11,13, 14, 16,17, 19,20,21,22] …. Để bổ sung cơ sở dữ liệu về thành phần thức ăn, nâng cao chất lƣợng nhung, kỹ thuật tạo chuồng nuôi Hƣơu sao với quy mô hộ gia đình em lựa chọn đề tài : “Nghiên cứu kỹ thuật nhân nuôi và thành phần thức ăn Hươu sao (Cervus nippon Temminck, 1838) ở xã Cúc Phương, Ninh Bình”.
1 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình ngiên cứu ngoài nƣớc Chăn nuôi hƣơu sao đã có từ lâu ở nhiều nƣớc trên thế giới, nhƣng tập trung chủ yếu ở các vùng châu Á nhƣ: Hàn Quốc, Trung Quốc, Mông Cổ, các nƣớc thuộc châu Á của Liên Xô cũ, Ấn Độ, Việt Nam. Theo thông báo của tổ chức FAO, hƣơu đƣợc nuôi ở Trung Quốc cách đây 2.000 năm, mục đích chính của ngành chăn nuôi này là sản xuất lấy nhung và thịt cung cấp cho nhu cầu thị trƣờng trong nƣớc, bởi vì ngƣời Trung Quốc có truyền thống sử dụng nhung hƣơu để chế biến thuốc chữa bệnh và làm thuốc bổ. Đặc trƣng chăn nuôi hƣơu ở Trung Quốc trƣớc đây là nuôi phân tán tận dụng điều kiện tự nhiên, mang tính chất truyền thống.
Những năm gần đây ngành chăn nuôi hƣơu đã phát triển mạnh ở một số nƣớc theo hƣớng tập trung thâm canh[19,20,22]. Nuôi hƣơu theo phƣơng pháp tập trung, công nghiệp hoá hiện đại có ở NewZeaLand cách đây gần 30 năm. Nhiều nƣớc sau đó cũng đã áp dụng phƣơng pháp chăn nuôi này. Nhờ đầu tƣ hợp lý và áp dụng những kỹ thuật tiến tiến vào chăn nuôi hƣơu nên đàn hƣơu ở các nƣớc không ngừng tăng trƣởng.
Cụ thể tình hình chăn nuôi của một số nƣớc trên thế giới nhƣ sau: Ở các nƣớc phƣơng Tây, NewZeland, Australia ngƣời ta xem trọng thịt hƣơu. Lý do vì thịt hƣơu nhiều nạc, ít mỡ và đƣợc cho là thịt “an toàn” đối với sức khoẻ con ngƣời. Nƣớc Đức mỗi năm tiêu thụ 40 - 50 tấn. Các nƣớc khác cũng ăn thịt hƣơu nhƣ Thụy Sỹ, Mỹ, các nƣớc Liên minh châu Âu [19,20].
Ở Anh (1990 - 1993) có 300 trang trại nuôi hƣơu với số lƣợng tăng từ 42.000 con (1990) lên tới 50. Hiện nay, hƣơu sao đƣợc nuôi ở Anh đã cung cấp đƣợc sản lƣợng xấp xỉ 750 tấn nhung. Họ còn nhập khẩu từ Newzealand khoảng 250 tấn để đảm bảo tiêu thụ trong nƣớc. 2 Ở Canada: Số lƣợng đàn hƣơu năm 1992 là 58.000 con, tăng mạnh so với 5 năm trƣớc đó.00 con đƣơc nuôi tập trung ở các trang trại lớn.
Hàng năm ở đây tiêu thụ khoảng 200 tấn thịt hƣơu. Ở Mỹ: Ngành chăn nuôi ở Mỹ đã phát triển cách đây gần 20 năm. Hiện nay ở Mỹ có trên 100.000 con hƣơu nai đang đƣợc nuôi ở các trang trại lớn với tổng giá trị lên khoảng 120 - 150 triệu USD. Sản lƣợng thịt hƣơu sản xuất bình quân hàng năm gần 300 tấn.
Ở NaUy: Hiện nay có khoảng 255.000 con hƣơu nai, chủ yếu là giống hƣơu Bắc Cực. Mục đích của việc chăn nuôi hƣơu ở NaUy chủ yếu là lấy thịt. Sản lƣợng thịt năm 1976 đạt 1.330 tấn, năm 1991 tăng lên 2.674 tấn, trong đó 95% sản lƣợng thu hoạch từ các khu vực chăn nuôi hƣơu tập trung. Chính phủ NaUy có chính sách trợ cấp cho những ngƣời chăn nuôi hƣơu khi giết thịt hƣơu giảm xuống.
Chính nhờ có chính sách khuyến khích và bảo trợ hợp lý đó mà trong thập niên vừa qua nghề chăn nuôi hƣơu phát triển rất mạnh ở NaUy. Ở NewZealand: đây là nƣớc tiên phong trong việc chăn nuôi hƣơu công nghiệp từ năm 1950.000 con hƣơu đƣợc nuôi ở các trang trại cho đến năm 1996 số lƣợng hƣơu tăng lên gần 400.000 con và chúng chủ yếu đƣợc nuôi trong 350 trang trại. Doanh thu hàng năm đạt khoảng 300 triệu USD qua việc xuất khẩu nhung, thịt và các sản phẩm phụ từ hƣơu. Hiện nay theo ƣớc tính ở NewZealand có khoảng 1,8 - 2,2 triệu con ở gần 5.000 trang trên khắp đất nƣớc trong đó có 100 trang trại nuôi hƣơu thuộc loại lớn nhất với số lƣợng trung bình 2.000 con/trang trại trong đó có khoảng 300.000 con hƣơu đang ở giai đoạn cho nhung, 800.000 con cái sinh sản.
Doanh thu xuất khẩu các sản phẩm từ hƣơu ở NewZealand đạt tới 200 triệu USD/năm. Ở Hàn Quốc: Nghề chăn nuôi hƣơu đã có cách đây từ 300 năm về trƣớc. Năm 1987 Hàn Quốc có khoảng 3.380 trang trại với 31. Đến năm 1997 3 số trang trại tăng lên 9.909 với tổng số con là 122.
Hàng năm nhu cầu tiêu thụ nhung hƣơu ở Hàn Quốc rất lớn, năm 1995 nhu cầu là 180,1 tấn, năm 1996 là 216,3 tấn nhung. Nguồn cung cấp nhung trong nƣớc chỉ chiếm 13 - 26%, số lƣợng còn lại phải nhập khẩu từ nƣớc ngoài. Giá nhung khô ở Hàn Quốc là 80. Ở Trung Quốc: Nghề chăn nuôi hƣơu có từ cách đây 2000 năm trƣớc vào đời nhà Hán, ngƣời Trung Quốc đã chăn nuôi hƣơu và sử dụng các sản phẩm của chúng nhƣ nhung, thịt và da.
Việc nuôi hƣơu bắt đầu phát triển thƣơng mại từ tỉnh Jinlin vào năm 1733. Theo Vƣơng Câu Nguyên thì khoảng từ năm 1960 trở đi, Trung Quốc phát triển mạnh việc chăn nuôi hƣơu. Năm 1984 ở Trung Quốc có khoảng 270.000 con hƣơu và hàng năm thu đƣợc hàng triệu USD từ chăn nuôi hƣơu [19,20,22]. Có thể nói ngành chăn nuôi hƣơu rất phát triển ở các nƣớc trên thể giới.
Đặc biệt là những năm gần đây ngành chăn nuôi hƣơu đã phát triển mạnh m nhằm đáp ứng nhu cầu về nhung hƣơu để là thuốc chữa bệnh và thịt phục vụ cho nhu cầu của ngƣời dân. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, việc chăn nuôi thuần dƣỡng hƣơu Sao cũng chỉ mới xuất hiện vào những năm (1920 - 1930). Năm 1929, ở huyện Thanh Chƣơng có hộ gia đình nuôi Hƣơu Sao tới 27 con. Nhân dân một số vùng ở Nghệ An và Hà Tĩnh, trong đó có Quỳnh Lƣu và Hƣơng Sơn cũng có tập quán nuôi 1 - 2 con hƣơu trong nhà để lấy nhung [5].
Trƣớc 1954, do chiến tranh, số lƣợng hƣơu nuôi còn lại không đáng kể. Sau năm 1954 nhân dân Nghệ An và Hà Tĩnh mới lại có điều kiện phát huy tập quán chăn nuôi hƣơu trong gia đình [5]. Năm 1964, Hƣơu sao từ Quỳ Hợp - Nghệ An đã đƣợc chuyển đến nuôi tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng. Năm 1967 - 1969, một số Hƣơu sao ở Cúc Phƣơng 4 đã đƣợc chuyển đến Ninh Bình, Thanh Hoá, Vĩnh Phú, Quảng Ninh để góp phần giữ giống và nhân giống.
Hƣơu nuôi ở các địa phƣơng này cũng phát triển mạnh, tăng nhanh về số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng hƣơu hiện tại (cuối năm 2005) trên địa bàn huyện Quỳnh Lƣu (Nghệ An) là là 6.000 con, Hƣơng Sơn (Hà Tĩnh) khoảng 11. Hƣơu chủ yếu nuôi trong nông hộ. Có 2 trại nuôi tập trung: Trại hƣơu xã Quỳnh Vinh (Quỳnh Lƣu) 80 - 100 con và Xí nghiệp giống Hƣơu Hƣơng Sơn 200 con [5,22].
- Lê Hiền Hảo và Trần Hải (1970), đã thông báo kết quả bƣớc đầu nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh sản và sinh trƣởng của hƣơu nuôi ở Vƣờn Bách Thảo Hà Nội [6]. Vũ Ngọc Tân (1987), đã nhận xét về tình hình nuôi hƣơu tại các cơ sở xung quanh thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai về đặc điểm ngoại hình, chiều cao và khả năng cho nhung của hƣơu sao. Tác giả rút ra kết luận hƣơu đực giống tốt phải có sức khoẻ tốt, tính di truyền ổn định, lông mƣợt, mặt rộng, vừng trán nhô cao, hai xoáy trán cao và cách xa nhau. Cổ ngắn, vòm cổ hơi sà xuống trông nhƣ có ƣớm, ngực thon mình ngựa, lƣng thấy chỉ lƣng rõ, chân ngắn vừa phải và mập, luôn đi bằng 4 ngón chân.
Con cái phải hài hoã giữa các phần của cơ thể, theo thể trạng của giống cái, đuôi luôn phe phẩy, mắt sáng, đầu nhỏ, mồm hơi rộng (tạp ăn), vành mắt có lông màu nâu hoặc nhung nâu, không trắng quá, cổ hƣơu cái phải dài, nổi gân, thân mình hơi ngắn, lông mƣợt, lƣng thẳng, bụng võng xuống, mông tròn đều và nổi [17]. Lê Minh Sắt (1994), đã nghiên cứu đặc điểm sinh học của hƣơu sao và cho biết hƣơu sao là loại động vật hoang dã, thích chạy nhảy, sống thành bầy đàn, việc chăn nuôi hƣơu cần có lý thuyết để áp dụng chăn nuôi theo tính cách hoang dã của chúng. Hƣơu có bản chất ăn tạp, bộ phận tiêu hoá khác với các loại gia súc khác, thời gian chăn nuôi hƣơu kéo dài từ 25 - 20 năm [16]. 5 Nguyễn Quỳnh Anh (1996), đã nghiên cứu về chất lƣợng giống và sản phẩm của hƣơu sao Việt Nam.
Tác giả kết luận rằng giống ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng sản phẩm của nhung hƣơu và hƣơu con. Những con đực giống tốt thƣờng có lai lịch rõ ràng, có ngoại hình tốt, đẹp, khi sơ sinh phải đạt từ 6kg trở lên.