Chương 1: Cơ sở lý luận về kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo. tài chính Chương 2: Thực trạng kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC Chương 3: Hoàn thiện kỹ thuật chọn mẫu trong kiểm toán báo cáo tải chính tại Công ty TNHH Kiểm toán và Kế toán AAC CHUONG 1 CƠ SỞ LY LUAN VE KY THUAT CHOQN MAU TRONG KIEM TOAN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. KHÁI QUÁT VỀ KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIÊM TOÁN. Các khái niệm liên quan đến chọn mẫu kiểm toán Theo chuẩn mực kiểm toán số 530 "Lấy mẫu kiểm toán”, lấy mẫu kiểm toán là việc áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hon 100% tổng.
số phần tử của một tổng thể kiểm toán sao cho tắt cả các đơn vị lấy mẫu đều. có cơ hội được lựa chọn nhằm cung cấp cho kiểm toán viên cơ sở hợp lý để. đưa ra kết luận về toàn bộ tổng thể. “Tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên lấy mẫu nhằm rút ra kết luận về toàn bộ dữ liệu đó (VSA 530).
Đơn vị lấy mẫu là các phần từ riêng biệt cấu thành tổng thể. Đơn vị lấy mẫu có thể là đơn vị hiện vật (ví dụ các séc trong bảng kê nộp tiền, c nghiệp vụ ghi Có trên số phụ ngân hàng, hóa đơn bán hàng hoặc số dư nợ các khoản phải thu khách hàng) hoặc đơn vị tiền tế (VSA 530), 'Cỡ mẫu là số lượng các phần tử trong tông thể được lựa chọn theo tiêu thức nhất định vào mẫu để kiểm tra với mức độ rủi ro lấy mẫu mà kiểm toán viên có thể chấp nhận ảnh hưởng. Mức độ rủi ro mà kiểm toán viên có thể chấp nhận càng thắp thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn (VSA 530). Kiểm toán viên phải đảm bảo rủi ro kiếm toán do áp dụng phương pháp lấy mẫu giảm xuống mức có thể chấp nhận được khi xác định cỡ mẫu.
Cỡ mẫu ảnh hưởng bởi rủi ro kiểm toán. Rủi ro có thể chấp nhận được càng thấp. 'thì cỡ mẫu cần thiết càng lớn. Rủi ro lẫy mẫu là rủi ro mà kết luận của kiểm toán viên dựa trên việc kiểm tra mẫu có thể khác so với kết luận đưa ra nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể.
với cùng một thủ tục kiểm toán. Rủi ro lấy mẫu có thẻ dẫn tới hai loại kết luận sai như sau: ~ Kết luận rằng các thủ tục kiểm soát nội bộ có tính hữu hiệu cao hơn so với mức hữu hiệu thực sự của các thủ tục kiểm soát đó (đối với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế lại có (đối với kiểm tra chỉ tiết). Kiểm toán viên quan tâm chủ yếu đến loại kết luận sai này vì nó ảnh hưởng đến tính hữu hiệu (chất lượng) của cuộc kiểm toán. ~ Kết luận rằng các thủ tục kiểm soát nội bộ có kém hữu hiệu hơn so.
với mức hữu hiệu thực sự của các thủ tục kiểm soát đó ( với thử nghiệm kiểm soát), hoặc kết luận rằng có sai sót trọng yếu trong khi thực tế lại không. có (đối với kiểm tra chỉ tiếu. Loại kết luận sai này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì thường dẫn tới các công việc kiểm toán nhiều hơn mức cần thiết 'VSA 530 định nghia: “Rui ro ngoài lấy mẫu là rủi ro khi kiểm toán vi đi đến một kết luận sai vì cí e nguyên nhân không liên quan đến rủi ro lấy mẫu.” Ví dụ khi kiểm toán viên sử dụng thủ tục kiểm toán không thích hợp, hay kiểm toán viên hiéu sai bằng chứng và không nhận diện được sai sót.2, Kỹ thuật chọn mẫu thống kê và phi thống kê “Lấy mẫu thống kê là phương pháp lấy mẫu dựa vào lý thuyết thống kê để xác định cỡ mẫu và đánh giá kết quá mẫu. Lấy mẫu thống kê sử dụng toán học để tính kết quả thống kê có hệ thống.
Phương pháp này lựa chọn các phần. tử một cách ngẫu nhiên và sử dụng lý thuyết xác suất thống kê để đánh giá kết quá mẫu, bao gồm cả việc định lượng rủi ro chọn mẫu Xác định mức rủi ro chọn mẫu mong muốn để xác định cỡ mẫu (VSA 530). Phương pháp chọn mẫu thống kê được sử dụng khi ~ Các phân tử của tổng thể có thể thẻ hiện dưới dạng số ngẫu nhiên. ~ Các kết quả đưa ra được đòi hỏi ở dưới dạng những con số chính xác.
lêm toán viên chưa có đủ những hiểu biết về tổng thể để áp dụng phương pháp chọn mẫu phi thống kê Chọn mẫu thống kê được khuyến khích sử dụng do có một số ưu điểm sau: ~ Đòi hỏi có sự tiếp cận chính xác và rõ ràng đối với đối tượng kiểm toán. ~ Kết hợp chặt chẽ việc đánh giá mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả của mẫu chọn với tổng thể trong cuộc kiểm toán. ~ Kiểm toán viên phải chỉ rõ các đánh giá cụ thể hay mức rủi ro và mức. trọng yêu Lấy mẫu phi thống kê là phương pháp lấy mẫu không có.
nhất một trong các đặc điểm của kỹ thuật chọn mẫu thống kê (VSA 530). Đó là phương pháp chọn mẫu không sử dụng các phép tính toán thống kê. Phương pháp chọn mẫu phi thống kê được sử dụng khi: ~ Việc kết hợp các phần tử mẫu với các số ngẫu nhiên là rất khó khăn và tốn kém ~ Các kết luận không nhất thiết phải dựa trên sự chính xác toán học. ~ Kiểm toán viên có đẩy đủ hiểu biết về tổng thể làm căn cứ áp dụng chọn mẫu phi thống kê để có thể đưa ra kết luận hợp lý về tổng thể.
Phương pháp chọn mẫu phi thống kê hiện nay cũng được sử dụng rộng, rãi bởi có những ưu điểm sau: - Cho phép tiếp cận với các vấn đề mà có thể không thích hợp với phương pháp thông kê 10 ~ Cho phép KTV rà soát lại các ước lượng suy diễn dựa trên các yếu tổ bồ sung cho những bằng chứng thu thập được từ mẫu. ~ Cho phép KTV có thể phỏng đoán và bỏ qua một số trường hợp cá biệt đòi hỏi đánh giá bằng định lượng về mức độ rủi ro và mức trọng yếu. “Trong quá trình chọn mẫu kiểm toán KTV có thể sử dụng phương pháp. chọn mẫu thống kê hoặc phương pháp chọn mẫu phi thống kê, tùy thuộc vào.
xét đoán nghề nghiệp của KTV để lựa chọn phương pháp hiệu quả hơn nhằm. thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán. Ví dụ, trong thử nghiệm kiểm. soát sự phân tích của KTV về bản chất và nguyên nhân của sai sót sẽ quan.
trọng hơn việc phân tích thống kê về s Xây ra của sai sót. Trong trường, hợp này phương pháp chọn mẫu phi thống kê là phương pháp duoc sử dụng. Dù sử dụng phương pháp chọn mẫu thống kê hay phương pháp chọn mẫu phi thống kê thi déu bao gém hai phan là quá trình chọn mẫu và quá trình đánh giá kết quả chọn mẫu. Quá chọn mẫu quyết định chọn lựa các phả tử mẫu từ tổng thẻ, còn quá trình đánh giá kết quả đưa ra những kết luận dựa.
trên đánh giá ban đầu của KTV về tổng thể. Vi du, KTV chọn 200 phiếu nhập. kho từ tổng thể, kiểm tra từng phiếu nhập kho để xác định có đính kèm biên bản ban giao hing hóa vật tư nhập kho hay không và đã xác định là có 5 trường hợp ngoại lệ. Việc quyết định 200 phiếu nhập kho nào được chọn từ tổng thể là một vấn đề của quá trình chọn mẫu.
Việc đi đến kết luận về tỷ lệ sai phạm trong tổng thể có một tỷ lệ sai phạm mẫu là 5% là một vấn đề của quá trình đánh giá 1. Chọn mẫu ngẫu nhiên và phi ngẫu nhiên 1. Chọn mẫu ngẫu nhiên (hay chọn mẫu xác suất) Chọn mẫu ngẫu nhiên là phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu. theo nguyên tắc mỗi phẩn tử trong tổng thể đều có cơ hội như nhau để được " chọn vào mẫu.
Phương pháp lựa chọn các phần tử vào mẫu ngẫu nhiên bao sồm lựa chon theo bảng số ngẫu nhiên, chọn mẫu theo chương trình máy tính và chọn mẫu hệ thông. Chọn mẫu dựa trên bảng số ngẫu nhiên Bảng số ngẫu nhiên là bảng kê các con số độc lập được xếp ngẫu nhiên phục vụ cho chọn mẫu (Nguyễn Quang Quynh và Nguyễn Thị Phương Hoa, 2008). Bảng số ngẫu nhiên là bảng kê các con số độc lập được xếp ngẫu nhiên phục vụ cho chọn mẫu. Bảng số ngẫu nhiên bao gồm 105000 số ngẫu nhiên.
do Hội đồng Thương mại Liên quốc gia ban hành. Các con số ngẫu nhiên đều là các số có 5 chữ và được xếp theo hình bản cỡ. Bảng số ngẫu nhiên bao gồm 8 cột (chẵn và lẻ) và bảng trích có 31 dòng từ dòng 1000 đến dòng 1030, Quy trình chọn mẫu theo bảng số ngẫu nhiên gôm 4 bước sau: Bước I: Định lượng đối trợng kiểm toán bằng hệ thống con số nhất định 'Kiểm toán viên tiến hành gắn cho mỗi phần tử trong tổng thể một con số. duy nhất để tạo ra mỗi quan hệ giữa các phần tử của tổng thể với bảng số.Các đối tượng kiểm toán (các chứng từ, tài sản.) thông thường.
thì đã được mã hóa (đánh trước bằng con số duy nhất. Ví dụ, có 4000 các khoản phải thu khách hàng và được đánh số thứ tự từ 0001 đến 4000. Khi đó, 'bản thân các con số thứ tự trên là các đối tượng chọn mẫu. Tuy nhiên, trong một số trường hợp KTV có thể cần thiết phải đánh số lại cho tổng thể để có thể có một hệ thống số duy nhất tương thích với bảng số ngẫu nhiên Chẳng.
hạn, nếu các nghiệp vụ đã được đánh số A.thì KTV có thể dùng. các con số đẻ thay thế các ký tự chữ cái và khi đó có thể dãy số mới là 1. Nói chung, trong trường hợp phải đánh số lại cho đối tượng kiểm toán thì nên tận dụng các con số đã có một cách tối đa để đơn giản hóa việc. 12 đánh s Bước 2: Xác định mỗi quan hệ giữa bảng số ngẫu nhiên với đối tượng.
kiểm toán đã định lượng Van dé dat ra là cần phải xây dựng mối quan hệ giữa các số cụ thể đã. được định lượng với các con số ngẫu nhiên trong bảng do đối tượng kiểm toán đã được định lượng bằng các con số cụ thể. Có thể có ba trường hợp xảy ra: Thứ nhất, các con số định lượng của đối tượng kiểm toán cũng gồm 5 chữ số như các con số ngẫu nhiên trong bảng. Khi đó quan hệ tương quan một.