CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH, KỸ THUẬT CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHỌN MẪU TRONG KIỂM TOÁN BCTC.Khái niệm về chọn mẫu. Chọn mẫu trong kiểm toán là quá trình chọn một nhóm các phần tử hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp lớn các phần tử hoặc đơn vị (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể. Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 – Lấy mẫu kiểm toán, ban hành theo Thông tư số 214/2012/TT/BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012 của Bộ tài chính, “Lấy mẫu kiểm toán (gọi tắt là lấy mẫu) là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đều có cơ hội để được chọn”.
Lấy mẫu sẽ giúp KTV thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của các phần tử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tổng thể. Các khái niệm liên quan đến chọn mẫu kiểm toán a) Tổng thể Tổng thể là một tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu. Mỗi một phần tử trong tổng thể được gọi là đơn vị tổng thể. Theo VSA 530 “Tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên lấy mẫu nhằm rút ra kết luận về toàn bộ dữ liệu đó”.
Trong kiểm toán, tổng thể là toàn bộ dữ liệu mà ở đó KTV chọn mẫu từ đó phân tích để có thể đi đến kết luận. Ví dụ, tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ cấu thành một tổng thể. Một tổng thể có thể được chia thành các nhóm hoặc các tổng thể con và mỗi nhóm có được kiểm tra riêng. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 530, KTV phải đảm bảo tính phù hợp và đầy đủ của tổng thể: o Phù hợp: Tổng thể phải phù hợp với mục đích của thủ tục lấy mẫu.
o Đầy đủ: Tổng thể phải luôn đầy đủ. SV:Bùi Quý Đôn 10 Lớp:CQ50/22.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính b) Đơn vị lấy mẫu Đơn vị lấy mẫu là các phần tử riêng biệt cấu thành nên tổng thể. Ví dụ như các các nghiệp vụ phát sinh, hóa đơn chứng từ bán hàng, hóa đơn GTGT, các sao kê,… c) Cỡ mẫu Tập hợp các phần tử được chọn ra làm đại diện trong quá trình khảo sát một đặc điểm hay một dấu hiệu nào đó của tổng thể thường gọi là một mẫu. Số phần tử có trong mẫu thường được gọi là kích thước mẫu hay cỡ mẫu, thông thường là khá nhỏ so với tổng thể chọn mẫu.
Cỡ mẫu chịu ảnh hưởng bởi mức rủi ro kiểm toán. Rủi ro có thể chấp nhận được càng thấp, thì cỡ mẫu cần thiết sẽ càng lớn. Cỡ mẫu được xác định theo phương pháp thống kê hoặc xét đoán nghề nghiệp của KTV phải khách quan trong mọi trường hợp. d) Mẫu đại diện Mẫu đại diện là mẫu mang những đặc trưng của tổng thể.
Chẳng hạn, qua đánh giá kiểm soát nội bộ có 6% phiếu chi không có chứng từ gốc kèm theo. Khi chọn mẫu các nghiệp vụ để kiểm tra, trong 500 phiếu chi chọn ra 30 phiếu chi không có chứng từ gốc kèm theo thì mẫu được chọn là mẫu đại diện. e) Rủi ro chọn mẫu Khi chọn mẫu, rủi ro chọn mẫu luôn phát sinh. Rủi ro chọn mẫu là khả năng mà kết luận của KTV dựa trên kiểm tra mẫu có thể khác với kết luận của KTV đạt được nếu kiểm tra trên toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục.
Nói cách khác, rủi ro chọn mẫu là sự sai khác giữa kết quả mẫu chọn với kết quả thực tế. Có hai loại rủi ro chọn mẫu: Rủi ro khi KTV kết luận rủi ro kiểm soát thấp hơn mức thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc không có sai sót trọng yếu trong khi thực tế là có (đối với thử nghiệm cơ bản). Loại rủi ro này ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán và có thể dẫn đến ý kiến kiểm toán không xác đáng. Rủi ro khi KTV kết luận rủi ro kiểm soát cao hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc có sai sót trọng yếu trong khi thực tế không có (đối với SV:Bùi Quý Đôn 11 Lớp:CQ50/22.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính thử nghiệm cơ bản).
Loại rủi ro này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì nó thường dẫn đến các công việc bổ sung để chứng minh rằng các kết luận ban đầu là không đúng. Rủi ro chọn mẫu có thể giảm bằng cách tăng cỡ mẫu. Nếu tăng kích cỡ mẫu chọn cho tới khi bằng toàn bộ tổng thể thì rủi ro chọn mẫu bằng không. Tuy nhiên, cỡ mẫu tăng lên sẽ làm khối lượng công việc kiểm toán tăng lên, đồng nghĩa với chi phí kiểm toán tăng lên, do đó, để chọn mẫu kiểm toán một cách hiệu quả là cần phải cân đối giữa rủi ro chọn mẫu với chi phí do chọn mẫu có kích cỡ lớn.
Để giảm rủi ro chọn mẫu ta cần lựa chọn phương pháp thích hợp cho quá trình chọn các khoản mục mẫu từ tổng thể, KTV có thể lựa chọn phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hay chọn mẫu hệ thống. f) Rủi ro do không chọn mẫu Rủi ro do không chọn mẫu là rủi ro khi KTV đi đến một kết luận sai vì các nguyên nhân không liên quan đến cỡ mẫu. Nguyên nhân của rủi ro này thường là năng lực và kinh nghiệm của KTV. Ví dụ: KTV có thể sử dụng thủ tục kiểm toán không thích hợp hay KTV hiểu sai bằng chứng kiểm toán và không nhận diện được sai sót.
Các trường hợp dẫn đến rủi ro không chọn mẫu thường bao gồm: ● Đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng: KTV có thể đánh giá sai lầm rủi to tiềm tàng trong đối tượng kiểm soát. Có thể KTV cho rằng có ít sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiểm toán nên họ có xu hướng giảm quy mô công việc cần thực hiện, do đó không phát hiện được các sai phạm. ● Đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát: Khi KTV quá tin tưởng vào khả năng của HTKSNB trong việc ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai phạm nên các KTV có xu hướng giảm khối lượng công việc cần thiết, vì vậy kết quả về việc đánh giá sai về rủi ro tiềm tàng là không phát hiện được tất cả các sai phạm trọng yếu. ● Lựa chọn các thủ tục kiểm soát không thích hợp và thực hiện công việc kiểm toán không hợp lý: KTV có thể lựa chọn các thử nghiệm kiểm toán không phù hợp SV:Bùi Quý Đôn 12 Lớp:CQ50/22.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính với mục tiêu kiểm toán.
Ví dụ: gửi thư xác nhận các khoản phải thu theo sổ sách trong khi đó mục tiêu là tìm ra các khoản phải thu chưa ghi sổ. Hoặc có thể đã chọn được các thủ tục thích hợp nhưng việc triển khai các thủ tục đó lại để xảy sai sót do hạn chế về năng lực, thể lực hay về thời gian. KTV và công ty kiểm toán có thể kiểm soát được rủi ro không do chọn mẫu và có khả năng làm giảm rủi ro không do chọn mẫu tới mức có thể chấp nhận được thông qua lập kế hoạch và giám sát việc thực hiện kế hoạch một cách chu đáo, đồng thời phải thực hiện các thủ tục kiểm soát chất lượng chặt chẽ và thích hợp đối với công việc kiểm toán. Các phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán Phương pháp chọn mẫu kiểm toán là các quy tắc, cách thức, thủ thuật, các bước mà KTV thực hiện trong quá trình chọn mẫu nhằm chọn ra được mẫu có tính đại diện cao, thu thập được bằng chứng kiếm toán có tính thuyết phục.
Phương pháp chọn mẫu kiểm toán là một vấn đề hết sức quan trọng. Có nhiều phương pháp chọn mẫu kiểm toán, nhưng phổ biến nhất chọn mẫu được phân 2 loại chính là “chọn mẫu thống kê” và “chọn mẫu phi thống kê”. Ngoài ra, theo các căn cứ phân loại khác nhau thì có các phương pháp chọn mẫu khác nhau: - Căn cứ vào hình thức biểu hiện của đổi tượng kiểm toán có thể chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ hoặc chọn mẫu theo đơn vị hiện vật. - Căn cứ vào cách thức cụ thế đế chọn mẫu có thế có chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu phi ngẫu nhiên.
- Căn cứ vào cơ sở của chọn mẫu có chọn mẫu xác suất và chọn mẫu phi xác suất. Dưới đây em sẽ trình bày về một số phương pháp chọn mẫu chủ yếu, trong các phương pháp này lại bao hàm nhiều phương pháp chọn mẫu cụ thể khác nhau. SV:Bùi Quý Đôn 13 Lớp:CQ50/22.05 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1. Chọn mẫu thống kê và chọn mẫu phi thống kê 1.
Chọn mẫu thống kê Chọn mẫu thống kê là việc sử dụng kỹ thuật tính toán toán học để đánh giá kết quả mẫu, tính kết quả thống kê có hệ thống. Phương pháp chọn mẫu thống kê được sử dụng khi: + Các phần tử của tổng thể có thể thể hiện dưới dạng số ngẫu nhiên. + Các kết quả đưa ra được đòi hỏi ở dưới dạng những con số chính xác. + KTV chưa có đủ những hiếu biết về tổng thể để áp dụng phương pháp chọn mẫu phi thống kê.
Chọn mẫu thống kê có hai đặc điểm sau: + Các phần tử được chọn ngẫu nhiên vào mẫu. + Sử dụng lý thuyết xác xuất thống kê để đánh giá kết quả mẫu bao gồm cả việc định lượng rủi ro chọn mẫu. Chọn mẫu thống kê được khuyến khích sử dụng do có một số ưu điểm sau: + Đòi hỏi có sự tiếp cận chính xác và rõ ràng đối với đối tượng kiểm toán. + Kết hợp chặt chẽ việc đánh giá mối quan hệ trực tiếp giữa kết quả của mẫu chọn với tổng thể trong cuộc kiểm toán.
+ KTV phải chỉ ra các đánh giá cụ thể hay mức rủi ro và mức trọng yếu. Chọn mẫu phi thống kê Chọn mẫu phi thống kê là phương pháp chọn mẫu không có một số đặc điểm của phương pháp chọn mẫu thống kê. Việc lựa chọn mẫu sẽ dựa vào phán xét nghề nghiệp của KTV chứ không dựa vào lý thuyết xác suất.