KỸ THUẬT CHO ẢN Quyết định năng suất và hiệu quả kinh té của nuôi cá phần lớn phụ thuộc vào kỹ thuật cho ăn có hợp lý hay không. Cách cho ăn hợp lý là trong các điều kiện ngoại cảnh khác nhau, vừa thoả mãn đều đặn nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi vừa đạt được sự chuyển hoá thức ăn cao nhất. Cách tính số lượng cho ăn Đe xây dựng ké hoạch sản xuất cũng như chuẩn bị cơ sở vật chất, đảm bảo cung cấp đầy đủ thức ăn cho cá, cần phải dự trù số lượng thức ăn như sau: Dựa vào số lượng cá nuôi, cỡ cá thả, số lần tăng trọng, hệ số thức ăn để tính số lượng thức ăn. v í dụ một ao nuôi cá thịt có diện tích 1 0 0 0 m2.
số lượng cá trắm cỏ thả nuôi 45kg, cá rôhu 30kg, cá trắm đen 7,5kg, cá chép 7,5kg, cá diếc 7,5kg. Giả sử số lần tăng trọng của cá trắm cỏ là 2 lần, cá rôhu là 2,5 lần, cá trắm đen là 3 lần, cá chép 3 lần, cá diếc là 2. Như vậy tăng thịt của cá trắm cỏ sẽ là 45 : X 2 = 90kg; Cá rôhu 30 X 2,5 = 75kg; cá trắm đen 7.5 X 3 = 22,5kg; cá chép 7,5 X 3 = 22,5kg; cá diéc 7. 62 Hệ số thức ăn của cá trắm cỏ đối với thực vật thuỷ sinh là 50 và cỏ trên cạn là 26 ~ 28 thì số lượng thức ăn cho cá trắm cỏ sẽ là 90 X 50 = 4500kg thực vật thuỷ sinh hoặc 90 X 26 ~ 28 = 2340 ~ 2520kg cỏ trên cạn.
Nếu cho cá ăn thức ăn tông hợp có hệ số thức ăn giả dụ là 3 thì số lượng thức ăn cần có là 90 X 3 = 270kg. Các cá khác cũng tính tương tự như vậy. Cách tính số lượng thức ăn hàng tháng trong năm: dựa vào khí hậu của mỗi địa phương, sự sinh trưởng của cá và kinh nghiệm tích luỹ trong quá trình sản xuất để dự tính. Trước hểt tính số lượng cả năm như trên rồi phân chia cho các tháng.
Thông thường người ta dựa vào nhiệt độ nước và sức sinh trưởng của cá để phân chia. Từ tháng 2 đến tháng 6 nhiệt độ nước cao dần thì tỷ lệ phần trăm cho ăn cũng tăng dần, sang tháng 7 - 8 nhiệt độ cao nhất trong năm, tốc độ sinh trưởng của cá có chậm lại nên tỷ lệ cho ăn không tăng nữa, đến tháng 9 - 1 0 nhiệt độ thấp dần cho ăn tăng và qua tháng 1 1 - 1 2 cho ăn ít dần. Qua theo dõi, có thể chia số lượng thức ăn qua các tháng như sau: 63 Bảng 30: số lượng thức ăn qua các tháng trong năm Tháng 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tỷ lệ % 1 2 4 8 12 13 13 15 14 12 6 4. Cách tính số lượng cho ăn hàng ngày (bảng 31) Căn cứ số lượng cho ăn hàng tháng chia ra thượng tuần, trung tuần và hạ tuần, số lượng thức ăn trung tuần bằng 1/3 số lượng thức ăn cả tháng.
Số lượng thức ăn hạ tuần bằng số lượng thức ăn trung tuần cộng với 1/2 số chênh lệch giữa hạ tuần tháng trước với trang tuần tháng này. Còn số lượng thức ăn thượng tuần thì bang số lượng thức ăn trung tuần trừ đi chênh lệch trên. Ngoài ra còn phải căn cứ vào thời tiết, tình hình ăn của cá đe điều chỉnh cho hợp lý. Có thể ví dụ về cách phân phối thức ăn cho cá chép như sau: Biết rằng hệ số thức ăn là 2,5, trọng lượng tăng thịt của cá chép là 250kg.
Như vậy tổng số thức ăn cần là 250 X 2,5 = 625kg. Những điều càn biết khi cho ăn Phải nắm vững nguyên tắc "3 xem" và "4 định". Đó là xem thời tiết khí hậu, xem màu nước ao, xem tình hình ăn của cá. Bốn định là định vị trí, định chất lượng, định số lượng, định thời gian, bảo đảm cho vật nuôi, ăn được thức ăn tươi, tốt, đủ theo nhu cầu.
64 Bảng 31: số lượng thức ăn cho ăn theo tuần Tỷ lệ % Số lượng thức Số lượng thức Nhiệt độ Tháng Tuần thức ăn ăn trong tháng ăn theo tuần nước (°C) của tháng (kg) (10 ngày) (kg) Thượng 12 625x2 3 3 Trung 13 2 = 12,5 4,0 Hạ 14 100 5,5 Thượng 15 625x4 6,9 4 Trung 17 4 ™ = 25 8,3 Hạ 19 100 9,7 Thượng 21 625x8 13,4 5 Trung 23 8 = 50 16,6 Hạ 25 100 20 Thượng 27 625x12 22,5 6 Trung 29 12 —------ = 75 25 Hạ 30 100 27,5 Thượng 30 625x13 27 7 Trung 30 13 ~=— ỉ- = 81,2 27 - Hạ 30 100 27 Thượng 30 625x13 27 8 Trung 30 13 — — = 81,2 27 Hạ 30 100 27 Thượng 28 625x15 29,1 9 Trung 26 15 - = 93,7 31,2 Hạ 24 100 33,4 Thượng 22 625x14 30,5 10 Trung 20 14 - £ — 1- = 87,5 29,2 Hạ 20 100 27,8. Thượng 18 625x12 26,4 11 Trung 18 12 1- = 75 25 Hạ 16 100 23,6 Thượng 16 625x6 18,0 12 Trung 16 6 —— = 37,5 12,5 Hạ 15 100 7,0 65 Đầu mùa xuân thả cá nuôi, lúc này nhiệt độ nước thấp, nên cho ăn vào lúc 2 - 3 giờ chiều tốt hơn đồng thời nên chọn thức ăn non, mèm, giàu chất dinh dưỡng, dễ tiêu hoá cho cá ăn vì qua mùa đông rét buốt cá tiêu hao ít nhiều thể trọng nên cần cho ăn thức ăn tốt để cá lấy lại thể lực làm đà sinh trưởng nhanh. Sau tiết thanh minh khi nhiệt độ cao dần, cá bắt mồi cũng nhiều lên, nên cho ăn thức ăn non, giàu dinh dưỡng. Sau cốc vũ cho đén lập hạ, cá ăn khoẻ cho cá ăn nhiều nhưng không nên quá nhiều vì lúc này nhiệt độ cao và thay đổi thất thường cá dễ bị bệnh, v ả lại nhiệt độ cao các chất lắng đọng dưới đáy ao và thức ăn thừa phân huỷ nhanh tiêu hao nhiều oxy cá rất hay dễ nối đầu, thời gian này cần đặc biệt lưu ý.
Sang mùa thu nhiệt độ thấp dần, khí hậu mát mẻ cho cá ăn nhiều và trước mùa đông cho cá ăn thức ăn giàu năng lượng để cá tích luỹ mỡ qua mùa đông hoặc vỗ béo cá trước khi thu hoạch bán. Nói tóm lại nên cho ăn "đều", "đủ", "tốt", "hợp lý" và "hợp khẩu vị". Cho ăn "đều" là lúc nào cũng có thức ăn cho cá, không nên lúc có thức ăn thì cho ăn thật nhiều, lúc ít thức ăn cho ăn ít hoặc không cho ăn. Cá khác với lợn, gà ỏ chỗ không biết kêu nên rất dễ bị bỏ đói.
66 Cho cá ăn đều đặn giúp cho nâng cao tỷ lệ sử dụng thức ăn. Nhiều kinh nghiệm cho thấy néu cho cá ăn với số lượng bằng 13,5% trọng lượng thân, sau đó néu đột nhiên giảm thấp còn 10% thì thể trọng cá giảm không giữ được trọng lượng như trước đó điều đó cho thấy thê trọng của cá thay đẩi theo sự biến động của số lượng thức ăn. Cho ăn "đủ" là cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng của cá sẽ làm cho cá sinh trưởng nhanh và hệ số thức ăn thấp. Cho ăn "tốt": đảm bảo chất lượng thức ăn tươi tốt không bị hư hỏng mốc meo.
Thức ăn đầy đủ thành phần dinh dưỡng dễ tiêu- hoá không để xảy ra bệnh do dinh dưỡng kém. Chú ý khi nuôi cá tram cỏ, cá ven bằng thức ăn tông hợp nên bô sung thức ăn xanh cá sẽ chóng lớn và béo. Cho ăn "hợp lý": cho ăn vừa đủ từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. Do cá trải qua những ngày đông rét buốt, tiêu hao nhiều dinh dưỡng nên cần nhanh chóng hồi phục sức khoẻ nhưng lúc này bộ máy tiêu hoá còn chưa hồi phục nêù cho ăn nhiều là chưa thích hợp (vì lúc này nhiệt độ vẫn còn thấp, chưa phải là nhiệt độ thích hợp để bắt mồi) vì vậy khi bắt đầu cho ăn nên cho thức ăn giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hoá và trước khi kết thúc 1 chu kỳ nuôi tức là vào mùa 67 đông cần cho ăn thức ăn giàu mỡ để cá có đủ năng lượng qua mùa đông.
Với góc độ là thành phần dinh dưỡng của thức ăn thì những tháng đầu cho ăn thức ăn giàu chất hydrat cacbon và canxi để cá tăng trưởng chiều dài, những tháng cuối năm cho ăn thức ăn giàu mỡ để tăng thịt. Cho ăn "hợp khau vị": thức ăn không những là giàu dinh dưỡng mà còn phải phù hợp vổi kích thước miệng cá, không nên làm những viên thức ăn quá to cá nuốt không được phải rỉa dần làm thức ăn rơi vãi lãng phí và thời gian ăn lâu, song cũng không nên quá bé, cá phải đớp nhiều viên một lúc mà vẫn không thoả mãn làm giảm sự hứng thú khi ăn. Qua nhiều thí nghiệm cho thấy, đường kính viên thức ăn bằng 1/4 chiều rộng miệng cá là thích hợp. Trong thực té sản xuất đo chiều rộng miệng cá khó hơn là đo chiều dài của nó, vì vậy người ta đã tìm mối liên quan giữa chiều dài thân và chiều rộng miệng của cá: Cá trăm cỏ là B = - 0,0631 + 0,0964L Cá rô phi là B = - 0,7326 + 0,1949L (B là chiều rộng miệng, L chiều dài thân) Từ đó có thể tính ra đường kính viên thức ăn cho phù hợp với từng cỡ và từng loài cá.
68 Ngoài ra khi cho ăn chú ý nhiệt độ nước và hàm lượng oxy hoà tan trong nước. Theo thí nghiệm nhận thấy rằng đối với cá trắm cỏ nhiệt độ thích hợp bắt mồi là từ 18°c trở lên, lúc này lượng thức ăn tong hợp bằng 1% trọng lượng thân, khi nhiệt độ trên 20°c thì số lượng thức ăn là 1,5% ~ 2% trọng lượng thân, khi nhiệt độ trên 25°c thì số lượng thức ăn là 2-2,5% trọng lượng thân, khi nhiệt độ 30°c, số lượng thức ăn là 3%, ngoài ra cần cho ăn thêm khoảng 10% thức ăn xanh thì cá trắm cỏ sinh trưởng nhanh. Khi hàm lượng oxy hoà tan ở ngưỡng thấp nhất phải ngừng cho ăn hoặc cho ăn muộn hơn để sau khi mặt trời mọc hàm lượng oxy tăng lên mới cho ăn, vì khi hàm lượng oxy hoà tan thấp, cá không muốn ăn mà sau khi cá ăn xong thường tiêu hao nhiều oxy, càng làm cho cá khó vượt qua môi trường thiếu oxy dẫn đen hiện tượng chét do ăn no. Theo báo cáo khi nhiệt độ nước 24°c, hàm lượng oxy dưới 5 mg/1 cá chép không thích ăn, khi hoà lượng oxy dưới 4 mg/1 cá giảm ăn 13%, dưới 3 mg/1 giảm ăn 36%, khi hàm lượng 2 mg/1 cá ngừng ăn và khi hàm lượng oxy từ 5 - 8 mg/1 cá ăn tăng 17%.