Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Tổ chức rèn luyện kỹ năng xây dựng đoạn văn nghị luận ở lớp 10 Trung học phổ thông Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm về kỹ năng Theo từ điển Tiếng Việt, kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế. Trong tâm lí học, kỹ năng được nghiên cứu nhiều, song chưa thống nhất, có hai hướng quan niệm cơ bản sau: Hướng thứ nhất: Coi kỹ năng như phương thức, cách thức hành động, được con người nắm vững, là khả năng con người thực hiện hành động một cách có kết quả (V.Rưcôv, Đại bách khoa toàn thư Liên Xô). Hướng thứ hai: Chú ý đến mặt kĩ thuật của hành động và đề cao kết quả cuối cùng của hành động.
Nhóm tác giả này cho rằng: Kỹ năng là khả năng của con người tiến hành một cách có kết quả mục đích hành động đã được tự giác trong các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau (N.Colubev,…) Có nhiều quan điểm về vấn đề này, chúng tôi chấp nhận cho rằng kỹ năng như là phương thức, cách thức hành động được con người nắm vững, là khả năng con người thực hiện hành động một cách có kết quả. Kỹ năng là sự vận động tri thức vào hoạt động thực tiễn để giải quyết một nhiệm vụ nào đó, là năng lực hành động để đạt kết quả với mục đích đã đề ra. Do đó, muốn có kỹ năng trước hết ta phải có tri thức về lĩnh vực đó và trực tiếp thực hiện các thao tác, các hành động và phải luyện tập nhiều lần để đạt kết quả như mong muốn. Kỹ năng nói chung và các kỹ năng viết đoạn văn nói riêng chỉ có thể hình thành bằng con đường luyện tập, tạo ra các năng lực thực hiện các hành 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động triển khai viết đoạn văn không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà cả trong những điều kiện thay đổi.
Quá trình rèn luyện kỹ năng cho học sinh trải qua nhiều giai đoạn: Giai đoạn 1: Đầu tiên là những kỹ năng nhận biết. Làm cho học sinh ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thực hiện hành động đựa trên vốn hiểu biết và các kỹ năng, kỹ xảo đã có. Giai đoạn 2: Biết cách phân tích hành động nhưng chưa đầy đủ, có hiểu biết phương thức hành động, sử dụng được các kỹ xảo nhưng chưa phải là các kỹ năng chuyên biệt của hành động này. Giai đoạn 3: Có các kỹ năng tổ chức hành động nhưng còn mang tính chất riêng lẻ, chưa có sự phối hợp, di chuyển giữa các kỹ năng.
Giai đoạn 4: Có những kỹ năng phát triển cao: Học sinh sử dụng vốn hiểu biết và các kỹ xảo đã có, ý thức được không chỉ mục đích hoạt động mà còn cả động cơ cách thức đạt mục đích. Giai đoạn 5: Có tay nghề : Sử dụng một cách thành thạo các kỹ năng khác nhau, biết phối hợp các kỹ năng khác nhau để tạo ra sản phẩm. Khái niệm và phân loại văn bản nghị luận * Khái niệm Nghị luận: bàn cho ra phải trái (Từ điển Tiếng Việt – Văn Tân). Nghị luận: bàn bạc (Từ điển Hán Việt – Phan Văn Các).
Nghị luận: bàn bạc và đánh giá cho thật rõ về một vấn đề nào đó (Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê). Vậy, nghị luận là bàn bạc cho ra phải trái, đánh giá cho thật rõ đúng sai một vấn đề nào đó. Văn nghị luận: Là loại văn xuôi trong đó người viết (người nói) sử dụng lý luận, bao gồm lý lẽ dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm rõ một vấn đề nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý kiến đó. * Phân loại văn bản nghị luận Văn nghị luận bao gồm: Nghị luận Văn học và nghị luận Xã hội.
- Nghị luận văn học: là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương- nghệ thuật như phân tích, cảm thụ một tác phẩm thơ văn, bình luận về một vấn đề văn học, một nhận định văn học sử, giới thiệu một tác giả hoặc một tác phẩm văn chương, v.v… - Nghị luận Xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội, chính trị, lịch sử, văn hoá, đạo đức, thiên nhiên, môi trường, v.v… Ví dụ, Bàn về vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội; Nêu lên suy nghĩ về việc xây dựng, bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp; Trao đổi về phương pháp tự học, tự đọc,… Tuy nhiên văn nghị luận văn học và văn nghị luận Xã hội có nhiều điểm giống nhau. Hai thể loại văn học này đều phải sử dụng thành thục các thao tác: chứng minh, giải thích, bình luận, phân tích, bình giảng…một vấn đề văn học hay xã hội 1. Đặc điểm của văn nghị luận Văn bản nghị luận được hình thành từ các yếu tố cơ bản là: Vấn đề cần nghị luận ( còn gọi là luận đề), luận điểm, luận cứ và lập luận (còn gọi là luận chứng). Luận đề trong bài nghị luận là vấn đề bao trùm cần được làm sáng tỏ, cần được đem ra bàn bạc, để bảo vệ, để chứng minh trong toàn bộ bài viết.
Chính vì thế trong nhiều bài nghị luận, luận đề thể hiện ngay từ nhan đề của bài viết: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (Hồ Chí Minh ); Sự giàu đẹp của tiếng Việt (Đặng Thai Mai); Đức tính giản dị của Bác Hồ (Phạm Văn Đồng) … 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận điểm (Ý lớn) là những ý kiến, quan điểm chính được nêu ra ở trong bài văn nghị luận. Luận điểm thường được thể hiện bằng một phán đoán (câu vẫn mang ý nghĩa khẳng định những định những thuộc tính, tính chất của vấn đề, những khía cạnh nội dung được triển khai để làm sáng tỏ cho luận đề. các luận điểm trong bài văn được sắp xếp, trình bày theo một hệ thống hợp lí, đầy đủ và được triển khai bằng những lí lẽ, dẫn chứng (luận cứ) hợp lí để làm sáng tỏ vấn đề mà luận điểm đặt ra. Ví dụ: để khẳng định truyền thống yêu nước của nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã đưa ra những luận điểm sau: - Lịch sử đã chứng tỏ tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc - Đồng bào ta ngày nay rất xứng đáng với tổ tiên ngày trước - Bổn phận của chúng ta phải biết biến lòng yêu nước vào những hành động.
Trong mỗi luận điểm lại có nhiều luận cứ nhằm làm sáng tỏ cho luận điểm Luận cứ là các dẫn chứng (chứng cứ ) cụ thể Luận chứng (lập luận) là sự tổ chức các luận điểm và luận cứ, các lí lẽ và dẫn chứng nhằm làm sáng tỏ vấn đề, để người đọc hiểu, tin, đồng tình với điều mà người viết đặt ra và giải quyết. Nghị luận là bàn luận, là nói có lí lẽ, là thuyết phục người đọc bằng lập luận lôgic chặt chẽ. lập luận chính là phải biết trình bày và triển khai luận điểm, biết nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, biết dùng những lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ điều mình muốn nói, để người đọc hiểu, tin và đồng tình với mình. Có thể nói nếu luận điểm là nội dung thì lập luận là hình thức diễn đạt nội dung.
Nghệ thuật lập luận phụ thuộc nhiều vào cách nêu vấn đề, cách dẫn dắt người đọc, người nghe, cách phân tích bằng nhiều thủ pháp nhỏ như so sánh, liên hệ, đối chiếu, nêu dẫn chứng thực tế, nêu số liệu thống kê… Tuyên ngôn độc lập của hồ Chí Minh là một mẫu mực như thế. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Không phải ngẫu nhiên từ đầu Người đã dẫn ra hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của Pháp và Mĩ. Cả hai tuyên ngôn này đề khẳng định quyền tự do, độc lập của mỗi dân tộc, mỗi con người. Từ chỗ khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”, Hồ Chí Minh đặt lại vấn đề: “Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng , bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta.
Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”. Luận điểm này được Người chứng minh rất cụ thể và sáng tỏ ở nhiều phương diện: - Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào … - Về kinh tế, chúng bóc lột nhân dân ta đến xương tuỷ, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều … Sau khi chứng minh một cách hùng hồn bản chất vô nhân đạo của bọn thực dân Pháp, Người khẳng định một sự thật: “Từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.” Đây cũng là một luận điểm hết sức quan trọng trong hệ thống lập luận của tác giả bản Tuyên ngôn. Bởi vì xuất phát từ đây, Người mới khẳng định và “tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã kí kết về việt Nam”.
Kết luận bản Tuyên ngôn được rút ra như một lẽ tất yếu, một lôgíc tự nhiên, một lẽ phải thông thường, ai cũng phái công nhận: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vứng quyền tự do, độc lập ấy”. Có thể nói để viết được một bài văn nghị luận là rất khó. Tạo nên cái hay cho bài viết là do nhiều yếu tố khác nhau.
Trong nhiều yếu tố đó, bao giờ cũng có một số yếu tố quan trọng và quyết định cho chất lương của bài viết. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các yếu tố này như bộ khung, như giường cột giúp cho bài văn có hình hài và đứng vững được. Luận điểm và cách lập luận trong bài văn nghị luận là những yếu tố như thế. Thiếu yếu tố này bài nghị luận sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Các phương pháp lập luận trong bài văn nghị luận Phương pháp lập luận nhân quả: Là phương pháp lập luận theo hướng ý trước nêu nguyên nhân, ý sau nêu hệ quả. Các trường hợp được sắp xếp liền kề theo trình tự nhân trước, quả sau.