Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy và học nghị luận xã hội Chương 2: Dạy nghị luận về hiện tượng xã hội theo phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC NGHỊ LUẬN XÃ HỘI 1. Quan điểm chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở THPT Giáo dục nước ta trong thập kỉ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế trí thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới.
Yêu cầu phải đối mới, phải chấn hưng nền giáo dục Việt Nam được nêu rất rõ trong các văn kiện của Đảng và được cụ thể hóa qua Luật Giáo dục của Việt Nam. Ở nước ta, trong quá trình cải cách giáo dục – đào tạo, mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục – đào tạo đã thay đổi nhiều lần cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và đã đạt được những tiến bộ đáng khích lệ. Tuy nhiên, những thay đổi về chuyên môn còn quá ít, quá chậm. Phương pháp đang được sử dụng phổ biến trong các trường học chủ yếu là thuyết giảng có tính chất áp đặt của thầy, coi nhẹ hoạt động tích cực, chủ động của trò.
Sự chậm trễ đổi mới phương pháp dạy học ở THPT là trở ngại lớn cho việc thực hiện mục tiêu giáo dục mà Đảng ta đã đề ra là đào tạo “người lao động tự chủ năng động, sáng tạo”. Để khắc phục tình trạng này, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tiếp tục khẳng định để đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo cần thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo lí, lí tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống và năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành và tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020, đã khẳng định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỉ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.
Chiến lược cũng đã xác định rõ một trong ba đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục. Luật Giáo dục đã được sửa đổi bổ sung có hiệu lực thi hành từ 1/7/2010, quy định: Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Tiếp đó, Tại Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kí quyết định phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020”.
Quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục của Đảng ta khẳng định phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lí của Nhà nước, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế , xã hội trong phát triển giáo dục. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển. Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với giáo dục, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho phát triển giáo dục phổ cập và các đối tượng đặc thù.
11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, để đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng. Sự phát triển của xã hội cuối thế kỉ XX, đầu thế kỉ XXI đòi hỏi con người có một phẩm chất và năng lực nổi lên hàng đầu như năng lực làm việc nhóm, năng lực hoạt động thực tiễn và giải quyết vấn đề do cuộc sống đặt ra, năng lực hợp tác, năng lực thích ứng,… Những yêu cầu trên đặt ra cho giáo dục phải đổi mới toàn diện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu giáo dục của xã hội và cá nhân, từ học chế đào tạo, cách thiết kế chương trình, tìm tòi những phương thức, cách thức giáo dục tốt hơn. Tuy nhiên, để tìm được những cách thức đào tạo phù hợp, cần phải làm sáng tỏ bản chất việc học mới có thể tìm được những cách dạy phù hợp, có hiệu quả nhất.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn hiện nay và yêu cầu phải cải cách toàn diện giáo dục THPT là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục phổ thông. Phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu dạy học, chương trình, nội giáo dục phổ thông, đặc biệt là đổi mới phương pháp giáo dục kết hợp với đổi mới hình thức tổ chức giáo dục THPT. Cuối cùng là đổi mới đánh giá kết quả giáo dục THPT. Hiện nay, giáo dục phổ thông ở nước ta đang từng bước tiến hành đổi mới theo định hướng của Đảng và của Bộ giáo dục và Đào tạo.
Tuy nhiên, sự đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo chỉ thực sự có ý nghĩa và mang tính khả thi khi được tiến hành đồng bộ với việc đổi mới các hình thức tổ chức dạy học. Nói cách khác, là phải tạo ra được các hình thức tổ chức dạy học phong phú có đủ khả năng để thể hiện và chuyển tải những nội dung và phương pháp 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đang ngày càng hoàn thiện. Rèn luyện học sinh THPT làm văn nghị luận về hiện tượng xã hội là một trong những chương trình đổi mới giáo dục hiệu quả, nhằm nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm của người học, đồng thời phát huy được năng khiếu, tính chủ động của học sinh trước những đổi thay của cuộc sống, qua đó có thể giải quyết phần nào những định hướng mà Đảng, Bộ Giáo dục và đào tạo đang quyết tâm thực hiện. Lí luận dạy học hiện đại làm cơ sở cho việc dạy nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống Sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia, dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế với những ảnh hưởng của xã hội tri thức và toàn cầu hóa tạo ra những cơ hội nhưng cũng đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục trong việc đào tạo đội ngũ lao động.
Giáo dục đứng trước một thử thách là tri thức của loài người tăng ngày càng nhanh nhưng cũng đồng thời lạc hậu rất nhanh. Mặt khác thị trường lao động luôn đòi hỏi ngày càng cao ở đội ngũ lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo, linh hoạt, tính trách nhiệm, năng lực công tác làm việc, khả năng giải quyết các vấn đề phức hợp trong tình huống thay đổi. Từ những đòi hỏi trên, giáo dục cần phải đổi mới để đáp ứng được những yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế, xã hội và thị trường lao động. Trong thế kỉ XX và những năm đầu của thế kỉ XXI, rất nhiều lí thuyết học tập mới đã ra đời để đáp ứng sự đổi mới của giáo dục.
Các lí thuyết học tập đều tìm cách giải thích cơ chế của việc học tập, làm cơ sở để tổ chức và thực hiện tối ưu quá trình học tập của HS. Có rất nhiều mô hình lí thuyết khác nhau, trong đó có một số thuyết học tập làm cơ sở cho tổ chức dạy và học nghị luận xã hội. Đó là thuyết học tập mang tính xã hội, sự giải quyết mâu thuẫn, sự hợp tác tập thể.Khái lược về văn nghị luận xã hội 1. Nội hàm khái niệm 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong nội dung hạn chế đề thi học kỳ, thi tốt nghiệp, thi tuyển sinh cao đẳng và đại học 4 năm gần đây (từ 2009), đây là phần được coi là mới nhất.
Đúng ra, dạng đề thi thuộc loại này trước đây đã từng rất quen thuộc với học sinh. Có một thời kì, trong đề thi làm văn của học sinh bậc phổ thông trung học, người ta không còn ra loại đề này. Chính thức từ kì thi năm 2009, dạng đề thi này mới quay trở lại, nên học sinh, nhất là khối thí sinh tự do cảm thấy bỡ ngỡ. Tuy nhiên, với những học sinh đã học chương trình mới từ đầu, nếu được thầy cô giảng dạy chu đáo và bản thân thường xuyên rèn luyện, đây cũng chỉ là bài làm văn thông thường, không khó.
Để làm tốt câu hỏi dạng này, học sinh trước hết phải nắm được những vấn đề lí thuyết về văn nghị luận.