Chương 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ CÔNG LẬP 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Các nhà khoa học quốc tế đã đề cập đến sự tự nhận thức bản thân trong các công trình nghiên cứu về tự ý thức.
Do đó, để tìm hiểu những nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân, trước hết cần tìm hiểu những công trình nghiên cứu về sự tự ý thức. Nhà tâm lý học người Đức, A. Pfender, đầu thế kỷ XX đã xây dựng khái niệm tự ý thức từ sự phân biệt “Cái tôi” và tự ý thức. Theo ông, tất cả các hiện tượng tâm lý là cảm xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không được hiểu là sự phản ánh mà như cái bên trong có sẵn.
Chủ thể tâm lý hình thành khả năng tự nhận thức về bản thân mình, hình ảnh của chính mình, hình ảnh này có hạt nhân và ngoại biên. Hạt nhân gồm có cuộc sống quá khứ của con người, ý thức về những khả năng hành động khác nhau. Ngoại biên gồm những gì nằm ngoài tâm lý như: quần áo, thân thể, tài sản. Khi chính hình ảnh đó của chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức tâm lý đặc biệt là tự ý thức.
Pfenden, tự ý thức trong quan niệm của A. Pfenden giống như là màn ảnh, trên đó phóng chiếu biểu tượng về bản thân của chủ thể tâm lý. [13; tr33] Cùng nghiên cứu về tự ý thức, GS. Philippe Rochat, thuộc khoa Tâm lý học, Đại học Emory, Mỹ, đã có công trình về “Five levels of self-awareness that children develop in the first years of life.
[24] Trong đó, ông đã phân tích năm mức độ tự ý thức của trẻ gồm có: - Mức 0: Sự hỗn loạn - Mức 1: Sự khác biệt - Mức 2: Sự định vị - Mức 3: Sự nhận ra xv - Mức 4: Sự bền vững - Mức 5: Sự tự ý thức Thông qua các bài tập thí nghiệm trên trẻ ở các độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi với gương soi, tác giả đã khẳng định mức độ của tự ý thức xuất hiện theo thứ tự thời gian, tương ứng với độ tuổi của trẻ. Theo sự phát triển lứa tuổi, sự tự ý thức luôn luôn biến đổi ở các đối tượng có sự trải nghiệm khác nhau cho đến khi chết đi. Do đó, khi nghiên cứu về sự tự ý thức, tác giả đã rất xem trọng yếu tố trải nghiệm mà bỏ qua các yếu tố liên quan đến đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ, với vai trò là cơ sở. Nhà tâm lý học Pháp, P.
Janet, đã có bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết bản chất của tự ý thức. Quan niệm của Janet xuất phát từ việc tự thừa nhận tâm lý con người bị chế ước bởi quá trình tác động qua lại của xã hội. Trong hoạt động tập thể và giao tiếp con người nhập tâm những phương thức hành vi, quan hệ, thái độ đối với thế giới bên ngoài của người khác. Những phương thức hành được nhập tâm đó sẽ thể hiện thành phương thức hành vi của con người đó.
Quan điểm của P. Janet về tự ý thức, như thuộc tính cơ bản của nhân cách được hình thành trong hệ thống các mối quan hệ xã hội phức tạp. Quan điểm đó đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quan niệm duy vật về bản chất của tự ý thức. [13; tr34] Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu nhằm phân biệt khái niệm “Tự nhận thức” và “Tự ý thức” trong quá trình hình thành nhân cách.
Công trình nghiên cứu của S. Franz cho rằng tự nhận thức là một thành phần của tự ý thức. Tự nhận thức là quá trình nhận thức hướng vào chính bản thân mình cùng với kết quả của quá trình đó. Franz khẳng định rằng quá trình tự nhận thức phong phú và phức tạp, nó được thực hiện trong những quá trình thành phần.
Các quá trình thành phần đó liên quan chặt chẽ với nhau, chỉ tách ra một cách tương đối về mặt lý thuyết. Trexnôcôva đã đưa ra các nguyên tắc duy vật biện chứng của việc phân tích tự ý thức nói chung và tự nhận thức nói riêng. Tự ý thức là quá trình tâm lý phức tạp, xvi bản chất của nó chứa đựng trong sự nhận thức của cá nhân các “hình ảnh” của bản thân trong những điều kiện hoạt động, hành động khác nhau, trong mọi mối quan hệ qua lại với người khác. Bản chất của quá trình tự ý thức thể hiện trong sự liên kết những hình ảnh đó vào một cấu tạo thống nhất trọn vẹn - biểu tượng, sau đó vào khái niệm “Cái tôi” của chính mình như một chủ thể khác với những chủ thể khác.
Trexnôcôva cho rằng tự nhận thức là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc-giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động-ý chí, điều khiển (tự điều chỉnh, điều khiển). Trong tác phẩm này, I. Trexnôcôva đã phân tích quá trình phát triển tự ý thức trong sự phát triển cá thể, phân tích bản chất ba mặt của ý thức. [15] Trong tác phẩm “Hoạt động, ý thức, nhân cách” A.
Lêônchiep đã đề cập đến vấn đề tự ý thức của con người. Ông nói: “Cũng giống như bất cứ một sự nhận thức nào sự tự nhận thức bản thân cũng bắt đầu từ việc tách bạch ra những thuộc tính bên ngoài và là kết quả của sự so sánh và khái quát hóa, sự tách bạch ra cái bản chất”. Theo ông cần phải phân biệt giữa hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình. “Ngay từ hồi còn rất bé người ta cũng đã tích lũy được nhiều hiểu biết, những biểu tượng về bản thân.
Còn ý thức bản ngã, ý thức về cái tôi, của mình, là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách”. [14] Khi nghiên cứu về tâm lý của trẻ em mẫu giáo, nhà tâm lý học V. Mukhina cũng đã đề cập đến sự tự ý thức của trẻ ở lứa tuổi này. Theo ông, khi bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chỉ ý thức được chính sự kiện là nó đang tồn tại, mà nó chưa thực sự hiểu biết gì về bản thân mình, về các phẩm chất của mình.
Cả trẻ mẫu giáo nhỏ tự gán cho mình tất cả những phẩm chất tốt được người lớn khen ngợi, thậm chí thường không biết những phẩm chất đó như thế nào, cũng chưa có một ý kiến đúng đắn và có cơ sở nào về bản thân mình. Trong khi đó trẻ mẫu giáo lớn ý thức được khá đúng đắn những ưu điểm và những thiếu sót của mình, tính tới thái độ của người xung quanh đối với chúng. xvii Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân trong quá trình hình thành nhân cách như: Nhà tâm lý học S. Rubinxtein cho rằng dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách là sự xuất hiện sự tự nhận thức bản thân.
[17] William Jame, nhà tâm lý học Mỹ, cũng đã nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân thông qua tìm hiểu khái niệm về “Cái tôi”. Ông chia “Cái tôi” trong quá trình phát triển của cá nhân thành ba loại là: “Cái tôi vật chất”, “Cái tôi xã hội” và “Cái tôi tâm hồn”. Trong đó khái niệm về “Cái tôi xã hội”, ông chú ý đến mối quan hệ giữa cá nhân với những người xung quanh qua việc đưa ra ví dụ: Nếu khi ta đến nơi nào đó mà không không có ai xung quanh, không ai trả lời khi ta nói, hoặc không ai quan tâm đến việc ta làm, và nếu mỗi người ta gặp đều hành động như không có sự tổn tại của ta thì chúng ta sẽ cảm thấy không thoải mái, dễ nổi nóng. Ông cho rằng “Cái tôi xã hội” của một người nằm ở việc người khác nhận ra và có hình ảnh về anh ta như thế nào.
James cũng nói đến “Cái tôi chủ thể” và “Cái tôi khách thể” như là hai mặt của “Cái tôi” khách thể. Trong đó, “Cái tôi chủ thể” là “Cái tôi” mà bản thân cá nhân nhận thức được chính mình. [28; tr39] Ngoài các nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân kể trên, chúng tôi cũng tìm hiểu một số công trình khác nghiên cứu sâu hơn về sự tự nhận thức bản thân ở trẻ em của một số tác giả sau: Nhà tâm lý học người Mỹ, D. Mead, cho rằng: “Trong mối tương tác với những người khác trong quá trình hoạt động, mỗi con người trở thành khách thể nhận thức của chính mình”.
Ông cho rằng tự nhận thức bản thân không thực hiện trực tiếp mà gián tiếp, qua thái độ của cá nhân đó với những người khác trong nhóm người mà người đó đang thuộc về hoặc với toàn bộ nhóm nói chung. Khi nghiên cứu sâu hơn về sự tự nhận thức bản thân ở trẻ em, ông cho rằng nguồn gốc hình thành tự nhận thức bản thân là trò chơi của trẻ. Đầu tiên đó là những trò chơi lặp lại hành động của người lớn. Trong trò chơi này trẻ thực hiện những vai xác định.
Sau đó là trò chơi có luật với một hay nhiều người khác lập lại quan hệ của những người xung quanh quen thuộc gần gũi với trẻ. Trong loại trò chơi này trẻ xviii nắm được hành vi của chính mình, ở trẻ hình thành biểu tượng sơ đẳng về bản thân, về khả năng của mình và những phẩm chất nhân cách riêng lẻ. Trẻ có được biểu tượng, rằng nó có thể phục tùng luật chơi hay không và có thể giữ được trong bao lâu, có thể có hay không hành động phù hợp với hành động của người khác. Như vậy, có thể nói trong những trò chơi đó bắt đầu hình thành ở trẻ biểu tượng về bản thân và hình thành cơ sở của tự nhận thức.
[16; tr 23] Năm 1978, Lewis và Brooks đã có một nghiên cứu trên trẻ sơ sinh để chứng minh rằng sự tự nhận thức bản thân không phải có sẵn khi trẻ vừa sinh ra. Họ đánh phấn hồng lên mũi của những đứa trẻ và đặt chúng trước gương. Những đứa trẻ từ 9 đến 12 tháng tuổi để ý và giao tiếp với người trong gương mà không quan tâm gì đến vết phấn trên mũi của mình. Trong khi đó những trẻ khoảng 18 tháng tuổi lại rất tò mò nhìn mình trong gương, rồi chạm vào vết phấn hồng trên mũi mình.
Chúng nhận ra được người trong gương chính là mình và nhận ra đặc điểm khác thường của mình. Nghiên cứu ở trong nước 1.