CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ KĨ NĂNG QUẢN LÝ THỜI GIAN CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm Kỹ năng Quá trình sinh sống và làm việc của con người luôn chịu ảnh hưởng của hai yếu tố kiến thức, kỹ năng. Kiến thức là một phần quan trọng của sự phát triển song kỹ năng lại giúp con người có thể vận dụng tốt những kiến thức đó vào đời sống thường ngày.
Trong những năm gần đây, “kỹ năng” là từ được quan tâm rất nhiều ở Việt Nam, từ phạm vi quốc gia đến phạm vi các cơ quan, doanh nghiệp. Họ đòi hỏi nhân viên của mình một số kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đàm phán. Tuy vậy, cho đến nay định nghĩa về khái niệm này vẫn chưa có sự thống nhất. Khi nghiên cứu khái niệm kỹ năng, có rất nhiều quan điểm được đưa ra.
Tùy thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi cá nhân sẽ có những định nghĩa khác nhau. Chẳng hạn như: Theo L. Lêvitôv - nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”. Quan điểm này nhấn mạnh một người có kỹ năng là người không chỉ đơn thuần nắm vững kiến thức lý thuyết mà còn phải vận dụng vào thực thế một cách đúng đắn, giúp cho công việc đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh đó, trong cuốn “Từ điển Tâm lý học” của tác giả Vũ Dũng khẳng định: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”. Theo ông, kỹ năng được hiểu đơn giản là việc biết ứng dụng những kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp được trau dồi học hỏi vào thực hiện các nhiệm vụ phù hợp, đúng cách mang lại kết quả, đạt mục tiêu đề ra. Mặc dù có nhiều khái niệm liên quan được đưa ra nhằm bổ sung, tạo nên một định nghĩa chính xác nhất. Tuy nhiên, hiện nay kỹ năng được hiểu chung là “Khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”.
Trên cơ sở tổng hợp những quan điểm trên đây, Ta có thể rút ra khái niệm “kỹ năng” được hiểu là năng lực của con người trong việc vận dụng những tri thức, kinh nghiệm thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn, để nhận biết, phán đoán và sử dụng phương pháp một cách phù hợp với từng tình huống nhằm đạt hiệu quả cao. Khái niệm quản lý Bản thân khái niệm quản lý mang tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Đồng thời, do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách lý giải khác nhau. Xuất phát từ nhiều góc độ nghiên cứu, các học giả trong và ngoài nước đã đưa ra định nghĩa quản lý theo những cách riêng của họ.
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý. Cùng với sự phát triển của phương thức xã hội hoá sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người các quan niệm về quản lý lại càng phong phú. Các trường phái quản lý học đã đưa ra những định nghĩa về quản lý như sau: Theo thuyết quản lý của H. Fayol: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát.
Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. Với cách lý giải này Fayol khẳng định quản lý là hoạt động tất yếu của mọi cơ quan, tổ chức, được đảm bảo thực hiện bằng năm chức năng gọi chung là “kế, tổ, đạo, kiểm”. Cụ thể bao gồm hoạch định, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra. Quan điểm này có tính phát hiện to lớn, phục vụ trực tiếp trong hoạt động quản lý của nhiều nhà lãnh đạo hiện nay.
Nhưng theo H. Cũng như Fayol, Koontz hiểu rất rõ tính “thiết yếu” cần thiết của quản lý trong mọi hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp. Với ông quản lý là nghệ thuật phối hợp nhịp nhàng, logic những nỗ lực của các cá nhân trong những công việc, nhiệm vụ riêng lẻ nhằm đạt được các mục đích chung của toàn tổ chức. Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn.
Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Đây là một tư tưởng vô cùng tiến bộ, tư tưởng của ông hướng tới việc hành động nhiều hơn là suy nghĩ, với mục tiêu tập trung vào lợi ích, kết quả đạt được trong quá trình vận hành quản lý. Song, dưới góc độ thời gian thì quản lý được hiểu là quá trình lập kế hoạch và thực hiện việc kiểm soát thời gian một cách có ý thức phù hợp với các hoạt động cụ thể, để tăng tính hiệu quả, năng suất làm việc. Sử dụng thời gian hiệu quả sẽ cho phép con 19 người "lựa chọn" trải nghiệm, quản lý các hoạt động trong thời gian cho phép và mang lại lợi ích thiết thực.
Như vậy, quản lý là quá trình tác động có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu đề ra. Trong đó, chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đối tượng quản lý (khách thể quản lý) là tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý.
Mục tiêu quản lý là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý đề ra. Khái niệm thời gian Thời gian là thuật ngữ được dùng phổ biến trong cuộc sống, thường ngày. Tuy nhiên, khái niệm về thời gian khá trừu tượng, để định nghĩa được nó không phải điều dễ dàng. Theo từ điển tiếng Việt, thời gian là hình thức tồn tại cơ bản vật chất (cùng với không gian) trong đó vật chất vận động và phát triển liên tục không ngừng.
Không gian, thời gian là một cặp phạm trù của triết học Mac-Lenin dùng để chỉ về một hình thức tồn tại của vật chất (cùng với phạm trù vận động, trong đó không gian chỉ hình thức tồn tại của khách thể vật chất ở ví trí nhất định, kích thước nhất định) và ở một khung cảnh nhất định trong tương quan với những khách thể khác. Trong khi đó thời gian chỉ hình thức tồn tại của các khách thể vật chất được biểu hiện ở mức độ lâu dài hay mau chóng (độ dài về mặt thời gian), ở sự kế tiếp trước hay sau của các giai đoạn vận động. thời gian thể hiện sự sắp đặt của sự ra đời và cái chết của vạn vật. Ý nghĩa của nó là vô tận và chưa từng có trước đây.
Các nhà Toán học lại quan niệm thời gian một chiều được xem là liên tục. Với Newton: “Thời gian là độc nhất, tuyệt đối và có giá trị phổ quát khắp mọi nơi”. Còn Anhxtanh cho rằng: “Thời gian là tương đối”. Trong vũ trụ gồm các Thiên hà đang giãn nở, các ngôi sao quay và các hành tinh xoắn ốc, ở trong đó tốc độ nhanh chậm của thời gian là khác nhau.
Do đó, quá khứ, hiện tại và tương lai của mọi thứ đều là tương đối. Thời gian trong Vật lý được định nghĩa bởi phép đo của chính nó: “thời gian là những gì được đọc trên đồng hồ”. Trong kinh điển, vật lý phi tương đối, nó là một đại lượng vô hướng, giống như chiều dài, khối lượng và điện tích, thường được mô tả như một đại lượng cơ bản. Những khái niệm về thời gian khác có thể được rút ra bằng cách 20 kết hợp giữa toán học với các đại lượng vật lý khác như chuyển động, động năng và các trường phụ thuộc thời gian.
Như vậy, thời gian là diễn biến của các trạng thái vật lý, nó diễn ra theo hướng một chiều và không tuần hoàn. Đây là quy luật chung của tự nhiên, nó tồn tại khách quan với ý muốn của con người, tuy nhiên chúng ta có thể quản lý, điều chỉnh quỹ thời gian này phù hợp để tạo nên hiệu quả riêng biệt với bản thân mình. Khái niệm Kỹ năng quản lý thời gian Trong quá trình học tập và phát triển, ai cũng nhận ra được phần nào về giá trị của thời gian. Victor Hugo từng nhận định rằng: “Cuộc đời đã ngắn ngủi như vậy mà chúng ta vẫn rút ngắn nó thêm khi bất cẩn lãng phí thời gian”.
Nó là nguồn lực không thể thiếu đối với mọi mặt và cả sức khỏe. Nhưng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội và mức độ cấp thiết của việc hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ dẫn đến tình trạng quá tải. Có những người “bơi” trong sự mù mờ, đôi khi có lối sống buông thả khiến cho thời gian bị trôi qua một cách lãng phí. Để cải thiện tình trạng này, quản lý thời gian là yếu tố vô cùng cần thiết không chỉ với đối tượng đi làm mà còn là các học sinh, sinh viên.
Vậy quản lý thời gian là gì? Theo Joe Johnson (1986) cho rằng: “Quản lý thời gian có nghĩa là kiểm soát tốt hơn cách bạn sử dụng thời gian và đưa ra những quyết định sáng suốt về cách bạn sử dụng nó”. Xét theo nhận định này, quản lý thời gian được hiểu đơn giản là việc kiểm soát sáng suốt việc sử dụng quỹ thời gian của bản thân. Theo Huỳnh Văn Sơn (2009) cho biết “Quản lý thời gian là biết hoạch định thời gian của mình cho những mục tiêu và những nhiệm vụ thật cụ thể. Quản lí thời gian không có nghĩa luôn tiết kiệm thời gian mà là biết làm chủ thời gian của mình khi đặt những khoảng thời gian mình đang có trong một kế hoạch thật cụ thể và chi tiết”.
Thực tế cho thấy, trong cuộc sống chúng ta phải tất bật với những nhiệm vụ từ học hành, làm việc, giải trí…v…v những điều đó đôi khi khiến ta rối bời không biết phải hoàn thành cái nào trước cái nào sau, cái nào ưu tiên hơn cái nào. Nhận định trên đây là câu trả lời cho vấn đề trên, đó là việc lên kế hoạch cho những nhiệm vụ cần làm khi đặt nó trong khoảng thời gian nhất định.