Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập sâu rộng, quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động (NSDLĐ) và người lao động (NLĐ) có sự vận động và chuyển biến phức tạp. Để thiết lập và duy trì trật tự sản xuất, NSDLĐ nắm giữ quyền quản lý lao động, trong khi NLĐ vừa được hưởng quyền lợi vừa phải phục tùng kỷ luật nội bộ. Khóa luận trích dẫn quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 134) nhằm nhấn mạnh tính tất yếu khách quan của việc siết chặt kỷ luật lao động trong mọi tổ chức sản xuất.
Trên thực tế, tình trạng vi phạm kỷ luật của NLĐ vẫn diễn ra phổ biến; ngược lại, việc áp dụng chế tài xử lý của nhiều doanh nghiệp còn mang tính tùy tiện, vô căn cứ, xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ. Nhằm tạo hành lang pháp lý hài hòa, Bộ luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) cùng Nghị định số 145/2020/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định căn bản về kỷ luật lao động, đặc biệt là hình thức kỷ luật sa thải - chế tài nghiêm khắc nhất. Xuất phát từ bối cảnh đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài nhằm đánh giá mức độ tương thích giữa quy định luật định với thực tế áp dụng tại một mô hình doanh nghiệp cung cấp dịch vụ pháp lý đặc thù.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ lý luận về kỷ luật sa thải lao động, phân tích nội dung các quy định trong Bộ luật Lao động năm 2019, đối chiếu thực tiễn thực thi tại Công ty Luật TNHH Navico; từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kỷ luật sa thải lao động và pháp luật về kỷ luật sa thải lao động.
- Nghiên cứu nội dung các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 về kỷ luật sa thải lao động và đánh giá thực tiễn thực hiện tại Công ty Luật TNHH Navico.
- Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kỷ luật sa thải lao động và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 tại đơn vị khảo sát.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận tập trung vào cơ sở lý luận, hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh kỷ luật sa thải theo Bộ luật Lao động năm 2019 và hồ sơ thực tiễn thực hiện kỷ luật sa thải tại Công ty Luật TNHH Navico.
Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:
- Về nội dung: Giới hạn trong các quy định pháp luật lao động hiện hành về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hiệu, nguyên tắc, các hành vi bị cấm, hậu quả pháp lý và cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc xử lý kỷ luật sa thải.
- Về không gian: Khảo sát thực tế tại Công ty Luật TNHH Navico (địa bàn thành phố Hà Nội).
- Về thời gian: Tập trung phân tích dữ liệu thực tiễn và các quy định pháp lý được áp dụng từ năm 2021 đến năm 2024 (tương ứng với thời điểm Bộ luật Lao động năm 2019 phát sinh hiệu lực thi hành).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng khoa học luật lao động Việt Nam, kế thừa các định nghĩa và quan điểm lý luận từ hệ thống giáo trình chuyên ngành (Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng các công trình nghiên cứu của các chuyên gia như PGS.TS. Nguyễn Hữu Chí, PGS.TS. Trần Thị Thúy Lâm, TS. Đỗ Ngân Bình, TS. Nguyễn Thanh Vinh. Tác giả tiếp cận khái niệm kỷ luật sa thải theo hai phương diện: là hình thức chế tài nghiêm khắc nhất làm chấm dứt quan hệ lao động do NSDLĐ áp dụng, đồng thời là một chế định pháp lý chặt chẽ ràng buộc quyền xử lý kỷ luật của NSDLĐ.
Khung pháp lý được tác giả sử dụng bao gồm:
- Bộ luật Lao động năm 2019 và các văn bản tiền nhiệm (Bộ luật Lao động năm 1994, sửa đổi bổ sung các năm 2002, 2006, 2007; Bộ luật Lao động năm 2012).
- Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.
- Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với hành vi tham ô (Điều 353).
- Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đối với định danh bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ.
- Hệ thống quy định đối chiếu về chế tài "buộc thôi việc": Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2010; Nghị định số 112/2020/NĐ-CP ngày 18/09/2020 về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.
- Văn bản áp dụng nội bộ: Nội quy lao động của Công ty Luật TNHH Navico (đặc biệt là các Điều 17, 20, 23 và 25).
Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về pháp luật lao động. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích: Làm sáng tỏ nội hàm các quy phạm pháp luật về điều kiện, trình tự và nguyên tắc xử lý kỷ luật sa thải theo Bộ luật Lao động năm 2019.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 với Bộ luật Lao động năm 2012 để xác định điểm mới; so sánh chế định sa thải lao động với chế định buộc thôi việc trong khu vực công.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa số liệu nhân sự, hồ sơ các vụ việc xử lý kỷ luật lao động tại doanh nghiệp khảo sát.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Rút ra các kết luận lý luận và khái quát thực tiễn áp dụng pháp luật.
Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố (sách chuyên khảo, luận văn, luận án, bài báo trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Nghề luật, Tạp chí Khoa học pháp lý, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp); hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành; số liệu nhân sự và hồ sơ vụ việc thực tế do Phòng Hành chính - Nhân sự Công ty Luật TNHH Navico cung cấp trong giai đoạn 2021–2024.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về kỷ luật sa thải lao động
Chương này tập trung làm rõ nguồn gốc lịch sử, bản chất pháp lý, đặc điểm và hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kỷ luật sa thải lao động. Sa thải được xác định là chế tài nghiêm khắc nhất trong 04 hình thức kỷ luật lao động (khiển trách; kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng; cách chức; sa thải). Hậu quả pháp lý của hình thức này là chấm dứt ngay quan hệ lao động giữa hai chủ thể.
Tác giả chỉ ra 03 đặc điểm cốt lõi của kỷ luật sa thải: (1) Làm chấm dứt quan hệ lao động; (2) Có căn cứ áp dụng luật định rõ ràng và khắt khe hơn các hình thức khác; (3) Được tiến hành theo một quy trình, thủ tục kiểm tra, chứng minh lỗi mang tính nguyên tắc bắt buộc.
Để phân định ranh giới giữa chế định sa thải trong doanh nghiệp và chế tài buộc thôi việc trong khu vực công vụ, khóa luận lập bảng phân tích so sánh các tiêu chí:
| Tiêu chí so sánh |
Kỷ luật sa thải lao động |
Kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức |
| Căn cứ pháp lý |
Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị định số 145/2020/NĐ-CP. |
Luật Cán bộ, công chức 2008; Luật Viên chức 2010; Nghị định số 112/2020/NĐ-CP. |
| Đối tượng áp dụng |
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, chịu sự điều hành, trả lương của NSDLĐ. |
Cán bộ, công chức được bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch/chức vụ; viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. |
| Phạm vi áp dụng |
Trong phạm vi các tổ chức, doanh nghiệp (bao gồm cả doanh nghiệp nhà nước và tư nhân). |
Trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và đơn vị sự nghiệp công lập. |
| Căn cứ vi phạm |
Quy định tại Điều 125 BLLĐ 2019 (04 nhóm hành vi: trộm cắp/ma túy; xâm phạm bí mật/SHTT/gây thiệt hại nghiêm trọng; tái phạm; tự ý bỏ việc). |
Quy định tại Điều 13 và Điều 19 Nghị định 112/2020/NĐ-CP (tái phạm; gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng; lừa dối văn bằng; nghiện ma túy...). |
| Thời hiệu xử lý |
06 tháng (vi phạm thông thường) hoặc 12 tháng (liên quan tài chính, tài sản, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh). |
05 năm (trừ các hành vi bị khai trừ đảng, xâm hại an ninh quốc gia, vi phạm bảo vệ chính trị nội bộ thì không tính thời hiệu). |
Về nội dung quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, tác giả phân tích chi tiết:
- Căn cứ xử lý: Quy định tại Điều 125, gồm 04 nhóm hành vi: (1) Trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy tại nơi làm việc; (2) Tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của NSDLĐ, gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của NSDLĐ hoặc quấy rối tình dục tại nơi làm việc; (3) Tái phạm khi đang trong thời hạn chưa xóa kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương (06 tháng) hoặc cách chức (03 năm); (4) Tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong thời hạn 30 ngày hoặc 20 ngày cộng dồn trong thời hạn 365 ngày tính từ ngày đầu tiên tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng.
- Thẩm quyền: Mở rộng cho người có thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động (khoản 3 Điều 18) hoặc người được quy định cụ thể trong Nội quy lao động (điểm mới so với BLLĐ 2012).
- Trình tự, thủ tục: Quy định tại Điều 122 BLLĐ 2019 và Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP với quy trình 04 bước (Lập biên bản vi phạm/thu thập chứng cứ; Thông báo cuộc họp trước ít nhất 05 ngày làm việc; Tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật và lập biên bản có chữ ký; Ban hành và gửi quyết định sa thải).
- Nguyên tắc và điều cấm: NSDLĐ có nghĩa vụ chứng minh lỗi; bảo đảm quyền tự bào chữa của NLĐ; không xử lý đối với NLĐ nghỉ ốm đau, thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi hoặc mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức; nghiêm cấm xâm hại sức khỏe, danh dự, cấm phạt tiền, trừ lương thay kỷ luật.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải tại Công ty Luật TNHH Navico
Khóa luận phân tích mô hình tổ chức và tình hình thực hiện pháp luật tại Công ty Luật TNHH Navico - một đơn vị tư vấn và tranh tụng với quy mô 20 nhân sự (bộ máy quản lý gồm 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc; 100% nhân sự chuyên môn đạt trình độ từ cử nhân luật trở lên). Các mảng dịch vụ chính bao gồm tư vấn đất đai (lĩnh vực mũi nhọn), công chứng - hợp đồng, doanh nghiệp, dân sự - hôn nhân gia đình và tranh tụng tại Tòa án.
Tác giả thống kê tình hình chấp hành và xử lý kỷ luật tại đơn vị trong giai đoạn 2021–2024:
| Năm |
Tổng số lao động |
Khiển trách (người) |
Kéo dài thời hạn nâng lương (người) |
Sa thải (người) |
Tổng số người bị xử lý kỷ luật |
| 2021 |
20 |
0 |
0 |
0 |
0 |
| 2022 |
20 |
2 |
0 |
1 |
3 |
| 2023 |
20 |
1 |
1 |
1 |
3 |
| 2024 |
20 |
0 |
0 |
0 |
0 |
(Nguồn: Phòng Hành chính - Nhân sự Công ty Luật TNHH Navico)
Đánh giá thực tiễn tại doanh nghiệp ghi nhận các mặt tích cực: Công ty đã ban hành Nội quy lao động bằng văn bản theo đúng quy định tại Điều 118 BLLĐ 2019; xác định thẩm quyền xử lý thuộc Giám đốc và Phó Giám đốc. Sự chuẩn mực về quy trình được minh chứng qua vụ kỷ luật anh Nguyễn Văn H (vào làm việc từ 08/01/2022 theo HĐLĐ 01 năm, mức lương 6.000.000 VNĐ):
- Anh H tự ý nghỉ việc từ ngày 15/08/2022 đến ngày 26/08/2022 không xin phép, nại lý do bản thân bị ốm và chăm người thân bị ốm nhưng không xuất trình được giấy tờ xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền; đơn xin nghỉ phép thực tế không gửi về phòng Hành chính - Nhân sự.
- Công ty thực hiện lập biên bản giải trình, ban hành thông báo họp ngày 01/09/2022, tổ chức cuộc họp hợp lệ và ban hành Quyết định sa thải số 01/2022 ngày 07/09/2022 căn cứ vào hành vi tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 30 ngày. Quyết định bảo đảm thời hiệu (dưới 06 tháng) và công ty đã thanh toán đầy đủ lương, đóng bảo hiểm xã hội tháng 08/2022 cho người lao động.
Tuy nhiên, khóa luận chỉ rõ các sai phạm và tồn tại nghiêm trọng trong áp dụng:
- Sai phạm trong Nội quy lao động: Khoản 1 Điều 20 Nội quy quy định sa thải đối với hành vi "Đã bị xử lý kỷ luật chuyển sang làm vị trí khác có mức lương thấp hơn mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật". Tác giả nhấn mạnh đây là quy định trái pháp luật, bởi BLLĐ 2019 không có hình thức kỷ luật "chuyển làm việc khác có mức lương thấp hơn" (chỉ có kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức). Bên cạnh đó, Nội quy sao chép nguyên văn quy định về mức "gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng" mà không cụ thể hóa định lượng giá trị bằng tiền mặt, gây khó khăn cho việc xử lý.
- Vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục: Điển hình là vụ kỷ luật sa thải anh Trần Văn S (tuyển dụng ngày 10/03/2023, mức lương 6.000.000 VNĐ). Ngày 18/05/2023, anh S có hành vi tắc trách gây thiệt hại quyền lợi của công ty. Dù Công ty có căn cứ và chứng minh được thiệt hại, nhưng khi tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật vào tháng 06/2023 và ban hành quyết định sa thải ngày 20/06/2023, Công ty đã không thực hiện thủ tục thông báo bằng văn bản trước ít nhất 05 ngày làm việc cho các thành phần bắt buộc tham dự theo quy định tại Điều 122 BLLĐ 2019 và Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải tại Công ty Luật TNHH Navico
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chương 3 đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện pháp luật: Đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn định lượng tiêu chí "gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của NSDLĐ" để tránh áp dụng tùy nghi; hoàn thiện các quy định về thời hiệu xử lý và quy chế giải quyết tranh chấp lao động phát sinh từ việc sa thải.
- Giải pháp tại Công ty Luật TNHH Navico: Khẩn trương rà soát, sửa đổi Nội quy lao động, bãi bỏ quy định trái luật tại khoản 1 Điều 20; xây dựng tiêu chí định lượng thiệt hại bằng số liệu tài chính cụ thể phù hợp với tính chất dịch vụ pháp lý; tuân thủ nghiêm ngặt quy trình triệu tập và tổ chức họp kỷ luật theo đúng mốc thời gian báo trước; đẩy mạnh tuyên truyền nội quy cho nhân sự nhằm phòng ngừa vi phạm.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh chân thực số liệu xử lý kỷ luật tại một tổ chức hành nghề luật sư có quy mô 20 người: trong vòng 4 năm (2021–2024), có 06 trường hợp vi phạm kỷ luật bị xử lý (03 người trong năm 2022 và 03 người trong năm 2023). Đáng chú ý, có 02 vụ việc áp dụng hình thức kỷ luật sa thải (anh Nguyễn Văn H năm 2022 và anh Trần Văn S năm 2023).
Công trình chỉ ra sự đối lập rõ nét giữa hai vụ việc thực tế: một trường hợp áp dụng chuẩn xác cả căn cứ, nguyên tắc và trình tự (vụ anh Nguyễn Văn H tự ý bỏ việc), và một trường hợp vi phạm nghiêm trọng thủ tục luật định về nghĩa vụ thông báo triệu tập cuộc họp (vụ anh Trần Văn S). Điều này chứng minh rằng ngay cả trong môi trường doanh nghiệp có 100% nhân sự chuyên môn luật, sai phạm về mặt thủ tục tố tụng nội bộ vẫn diễn ra nếu không có sự giám sát quy trình chặt chẽ.
Các đề xuất của tác giả mang tính ứng dụng trực tiếp, đặc biệt là yêu cầu bãi bỏ điều khoản trái luật về việc lấy căn cứ tái phạm từ "chuyển công tác có mức lương thấp hơn", đồng thời kiến nghị định lượng mức độ thiệt hại tài sản trong Nội quy lao động của doanh nghiệp dịch vụ.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc khai thác đề tài kỷ luật sa thải tại một loại hình đơn vị ít khi được khảo sát độc lập: công ty luật tư nhân quy mô vừa và nhỏ. Kết quả nghiên cứu bổ sung dữ liệu thực nghiệm cho các nghiên cứu lý luận về quan hệ lao động trong các tổ chức dịch vụ chuyên môn cao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có giới hạn nhất định do phạm vi khảo sát thực tiễn tập trung tại duy nhất một đơn vị là Công ty Luật TNHH Navico với quy mô nhân sự nhỏ (20 người). Dữ liệu vi phạm thực tế diễn ra trong khung thời gian hẹp (chủ yếu tập trung ở năm 2022 và 2023) với tổng số 02 trường hợp sa thải cụ thể, do đó chưa phản ánh hết tính đa dạng của các tranh chấp lao động về sa thải trong toàn bộ ngành dịch vụ pháp lý.
Văn bản định hướng việc mở rộng nghiên cứu sang các đơn vị hành nghề luật sư có quy mô nhân sự lớn hơn, các chi nhánh công ty luật nước ngoài tại Việt Nam, hoặc so sánh liên ngành với các doanh nghiệp tư nhân thuộc lĩnh vực dịch vụ tư vấn khác để kiểm chứng tính phổ quát của các kết luận lý luận và giải pháp đề xuất.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Lao động, Luật Kinh tế làm tiểu luận, khóa luận tốt nghiệp hoặc nghiên cứu chuyên sâu về chế định chấm dứt hợp đồng lao động và kỷ luật lao động.
- Cán bộ phụ trách nhân sự (HR), pháp chế doanh nghiệp (In-house Counsel) và ban giám đốc các doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là các công ty chuyên ngành dịch vụ, trong việc xây dựng, đăng ký Nội quy lao động đúng chuẩn pháp lý.
- Phần đáng tham khảo nhất trong khóa luận là bảng so sánh giữa sa thải và buộc thôi việc cán bộ công chức (Chương 1); cùng với việc phân tích chi tiết hồ sơ 02 ca xử lý kỷ luật sa thải thực tế với các chứng cứ và sai sót thủ tục cụ thể (Chương 2).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân biệt hình thức kỷ luật sa thải lao động với hình thức buộc thôi việc của cán bộ, công chức dựa trên những tiêu chí nào?
Tác giả phân tích sự khác biệt dựa trên 05 tiêu chí: căn cứ pháp lý áp dụng (BLLĐ 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP so với Luật Cán bộ, công chức 2008, Luật Viên chức 2010 và Nghị định 112/2020/NĐ-CP); đối tượng áp dụng (NLĐ làm việc theo HĐLĐ so với cán bộ, công chức, viên chức trong biên chế nhà nước); phạm vi áp dụng (doanh nghiệp so với cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập); căn cứ hành vi vi phạm; và thời hiệu xử lý (06–12 tháng ở sa thải so với 05 năm ở buộc thôi việc).
2. Điểm mới của Bộ luật Lao động năm 2019 về căn cứ và thẩm quyền xử lý kỷ luật sa thải được tác giả phân tích là gì?
Về căn cứ, BLLĐ 2019 tách các hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy thành điều khoản riêng; bổ sung hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc; và quy định cụ thể thời gian tự ý bỏ việc tính theo số ngày cộng dồn (05 ngày trong 30 ngày hoặc 20 ngày trong 365 ngày). Về thẩm quyền, luật mới mở rộng quyền xử lý kỷ luật cho người được quy định cụ thể trong Nội quy lao động, thay vì chỉ giới hạn duy nhất ở người giao kết HĐLĐ như BLLĐ 2012.
3. Công ty Luật TNHH Navico đã xử lý đúng những quy định nào trong vụ sa thải anh Nguyễn Văn H năm 2022?
Công ty đã tuân thủ đúng căn cứ pháp luật khi xác minh anh H tự ý nghỉ việc từ 15/08/2022 đến 26/08/2022 không lý do chính đáng; yêu cầu giải trình và chứng minh sự việc; gửi thông báo họp kỷ luật ngày 01/09/2022; ban hành Quyết định sa thải số 01/2022 vào ngày 07/09/2022 (bảo đảm thời hiệu luật định dưới 06 tháng); đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền lương và đóng bảo hiểm xã hội đến hết tháng 08/2022.
4. Sai phạm pháp lý của Công ty Luật TNHH Navico trong vụ việc kỷ luật sa thải anh Trần Văn S năm 2023 là gì?
Dù hành vi của anh S gây hậu quả nghiêm trọng và Công ty đã chứng minh được thiệt hại, nhưng Công ty đã vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục quy định tại Điều 122 BLLĐ 2019 và Điều 70 Nghị định 145/2020/NĐ-CP khi tiến hành tổ chức phiên họp xử lý kỷ luật sa thải mà không thông báo trước về nội dung, thời gian, địa điểm cho các thành phần bắt buộc phải tham dự.
5. Điều khoản nào trong Nội quy lao động của Công ty Luật TNHH Navico bị tác giả chỉ ra là trái pháp luật?
Khoản 1 Điều 20 Nội quy lao động của Công ty quy định áp dụng sa thải đối với trường hợp: "Đã bị xử lý kỷ luật chuyển sang làm vị trí khác có mức lương thấp hơn mà tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật". Đây là quy định trái pháp luật vì Bộ luật Lao động năm 2019 không có hình thức kỷ luật chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn; luật chỉ cho phép sa thải khi tái phạm trong thời gian chưa xóa kỷ luật đối với người bị kéo dài thời hạn nâng lương hoặc cách chức.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Văn Tiên đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về chế định kỷ luật sa thải theo Bộ luật Lao động năm 2019, đồng thời đặt trong tương quan so sánh với chế tài buộc thôi việc trong khu vực công vụ. Thông qua việc phân tích thực tế áp dụng tại Công ty Luật TNHH Navico giai đoạn 2021–2024, công trình đã làm sáng tỏ cả những mặt tích cực lẫn các sai phạm điển hình về nội quy và trình tự tố tụng tại một doanh nghiệp pháp lý. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện được đề xuất xuất phát trực tiếp từ các vướng mắc thực tiễn, đem lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác xây dựng quy chế và quản trị quan hệ lao động.