Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt huyện Munlapamok, Lào

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện tại huyện Munlapamok, tỉnh Champasak, Lào.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
79
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan chất lượng cán bộ chủ chốt cấp huyện ở huyện Munlapamok

Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện giữ vai trò nền tảng trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Cấp huyện là cấp cơ sở trực tiếp triển khai đường lối, chính sách của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào vào đời sống. Lãnh đạo cấp huyện đại diện cho bộ máy công quyền, điều hành mọi mặt kinh tế và xã hội tại địa bàn. Tại huyện Munlapamok thuộc tỉnh Chăm Pa Sắc, xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh là yêu cầu cấp thiết. Sự thành bại của công cuộc đổi mới phụ thuộc lớn vào phẩm chất và năng lực của đội ngũ lãnh đạo này. Cán bộ chủ chốt cần hội tụ bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng và kiến thức quản trị sâu rộng. Đánh giá chất lượng cán bộ dựa trên số lượng, cơ cấu ba độ tuổi, trình độ học vấn, năng lực chuyên môn và lý luận chính trị. Nghiên cứu thực trạng giúp xác định điểm nghẽn trong công tác cán bộ. Từ đó, địa phương xây dựng giải pháp đào tạo, quy hoạch và bố trí nhân sự khoa học, phục vụ công cuộc phát triển bền vững.

1.1. Khái niệm và vị trí cán bộ chủ chốt cấp huyện

Cán bộ chủ chốt cấp huyện bao gồm những người đứng đầu cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận và đoàn thể nhân dân tại địa phương. Nhóm cán bộ này nắm giữ quyền hạn ra quyết định và tổ chức thực hiện chủ trương chính sách. Vị trí cấp huyện tại Lào là cầu nối quan trọng giữa Trung ương, tỉnh và các bản làng cơ sở. Cán bộ chủ chốt trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của quần chúng. Họ chịu trách nhiệm toàn diện về sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế và an ninh trật tự trên địa bàn quản lý. Năng lực của đội ngũ lãnh đạo cơ sở phản ánh hiệu lực quản lý của bộ máy nhà nước.

1.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ chủ chốt

Đánh giá chất lượng cán bộ chủ chốt cấp huyện dựa trên các tiêu chí khoa học và toàn diện. Tiêu chí đầu tiên là phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống và tinh thần trách nhiệm. Tiêu chí thứ hai là năng lực thực tiễn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị. Tiêu chí thứ ba là số lượng và cơ cấu đội ngũ. Cơ cấu cán bộ phải bảo đảm cân đối ba độ tuổi gồm cán bộ trẻ, trung niên và cao tuổi. Ngoài ra, cơ cấu cần chú trọng tỷ lệ cán bộ nữ và cán bộ người dân tộc thiểu số. Sự đồng bộ giữa các tiêu chuẩn đảm bảo nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý tại địa phương.

II. Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở huyện Munlapamok

Thực trạng công tác cán bộ tại huyện Munlapamok, tỉnh Chăm Pa Sắc thể hiện nhiều chuyển biến tích cực lẫn khó khăn tồn tại. Về ưu điểm, đội ngũ cán bộ lãnh đạo địa phương luôn trung thành với đường lối của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Cán bộ chủ chốt tích cực vận động nhân dân lao động sản xuất, giữ vững an ninh biên giới và trật tự an toàn xã hội. Công tác tư pháp và hòa giải cơ sở đạt nhiều kết quả cụ thể trong giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, chất lượng tổng thể của đội ngũ cán bộ chủ chốt vẫn còn những hạn chế đáng kể. Trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu thời kỳ đổi mới. Tỷ lệ cán bộ qua đào tạo đại học chính quy còn thấp. Kiến thức về quản lý nhà nước và kỹ năng điều hành kinh tế thị trường còn nhiều bỡ ngỡ. Một số cán bộ thiếu tính tiên phong, chưa phát huy hết tinh thần tự học và tự rèn luyện. Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chỉ đạo và phát triển kinh tế nông thôn của huyện.

2.1. Cơ cấu độ tuổi và trình độ chuyên môn nghiệp vụ

Cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo tại huyện Munlapamok có sự phân bổ giữa các nhóm tuổi nhưng chưa thực sự đồng đều. Tỷ lệ cán bộ trẻ có năng lực và trình độ cao còn hạn chế trong bộ máy chỉ đạo. Về trình độ học vấn, phần lớn cán bộ tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc bổ túc văn hóa. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ chủ yếu ở bậc trung cấp và sơ cấp, thiếu vắng các chuyên gia có trình độ sau đại học. Về lý luận chính trị và quản lý nhà nước, số lượng cán bộ hoàn thành chương trình cao cấp còn khiêm tốn. Sự bất cập trong cơ cấu đào tạo tạo ra khoảng trống kỹ năng khi xử lý các vấn đề kinh tế xã hội phức tạp.

2.2. Những tồn tại và nguyên nhân trong công tác cán bộ

Công tác cán bộ tại huyện Munlapamok bộc lộ một số hạn chế từ khâu đánh giá, quy hoạch đến bố trí công tác. Quy trình quy hoạch cán bộ đôi khi mang tính hình thức, chưa bám sát nhu cầu vị trí việc làm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng chưa tiến hành thường xuyên và sâu sắc. Chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài và chế độ tiền lương chưa tạo đủ động lực thúc đẩy cán bộ cống hiến hết mình. Cơ sở vật chất và kinh phí phục vụ đào tạo bồi dưỡng cán bộ tại huyện còn nhiều thiếu thốn. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát nội bộ chưa kịp thời ngăn chặn các biểu hiện suy thoái đạo đức và vi phạm kỷ luật.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt ở huyện Munlapamok

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện tại huyện Munlapamok đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi. Trước hết, cấp ủy đảng cần nâng cao nhận thức về vai trò then chốt của công tác cán bộ. Địa phương phải tiến hành rà soát, cụ thể hóa tiêu chuẩn chức danh cho từng vị trí lãnh đạo. Tiêu chuẩn chức danh rõ ràng giúp minh bạch hóa quá trình tuyển chọn và đánh giá năng lực thực chất. Công tác quy hoạch cán bộ cần gắn liền với kế hoạch đào tạo dài hạn và luân chuyển thực tiễn. Đổi mới phương thức đào tạo theo hướng gắn lý luận chính trị với kỹ năng quản trị hiện đại. Huyện cần phối hợp chặt chẽ với các trường chính trị của tỉnh Chăm Pa Sắc để mở lớp bồi dưỡng chuyên sâu. Bên cạnh đó, chính quyền cần hoàn thiện chính sách đãi ngộ vật chất và tinh thần thỏa đáng. Đãi ngộ hợp lý giúp cán bộ yên tâm công tác, tận tụy phục vụ nhân dân và gắn bó lâu dài với cơ sở.

3.1. Đổi mới quy hoạch và tiêu chuẩn hóa chức danh

Quy hoạch cán bộ chủ chốt tại huyện Munlapamok cần thực hiện theo phương châm động và mở. Địa phương xây dựng nguồn cán bộ kế cận có năng lực, đạo đức tốt và bản lĩnh chính trị vững vàng. Việc xây dựng khung tiêu chuẩn chức danh cụ thể giúp sàng lọc nhân sự chính xác. Mỗi vị trí lãnh đạo từ Bí thư, Chủ tịch huyện đến Trưởng các phòng ban phải đáp ứng chuẩn mực về bằng cấp, kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức. Công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo về cơ sở giúp rèn luyện kỹ năng thực tiễn và thử thách bản lĩnh chính trị trước khi bổ nhiệm chính thức.

3.2. Hoàn thiện chính sách đãi ngộ và kiểm tra giám sát

Chính sách đãi ngộ đóng vai trò đòn bẩy kích thích tinh thần trách nhiệm của cán bộ huyện Munlapamok. Chính quyền địa phương cần thực hiện đầy đủ chế độ phụ cấp trách nhiệm, nhà ở công vụ và hỗ trợ chi phí học tập nâng cao trình độ. Song song với đãi ngộ, tổ chức Đảng và Mặt trận phải siết chặt công tác kiểm tra, giám sát kỷ luật. Kiểm tra định kỳ và đột xuất giúp phòng ngừa suy thoái tư tưởng và tiêu cực tham nhũng. Mỗi cán bộ chủ chốt phải tự giác học tập, rèn luyện đạo đức cần kiệm liêm chính, phát huy vai trò nêu gương trước nhân dân.

IV. Đánh giá ứng dụng nâng cao cán bộ chủ chốt tại huyện Munlapamok

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện là nhiệm vụ chiến lược xuyên suốt của Đảng bộ huyện Munlapamok. Việc triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp tạo ra chuyển biến mạnh mẽ trong năng lực quản trị công. Đội ngũ lãnh đạo vững vàng về chính trị và am hiểu nghiệp vụ sẽ thúc đẩy nền kinh tế huyện tăng trưởng nhanh chóng. Kết quả nghiên cứu khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa chất lượng nhân sự lãnh đạo và đời sống nhân dân. Cán bộ gương mẫu và tận tụy củng cố niềm tin vững chắc của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Các giải pháp đề xuất không chỉ áp dụng hiệu quả tại huyện Munlapamok, tỉnh Chăm Pa Sắc mà còn có giá trị tham khảo cho các địa phương tương đồng tại Lào. Việc ứng dụng linh hoạt các tiêu chuẩn đánh giá và quy trình đào tạo sẽ xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

4.1. Ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý địa phương

Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn huyện Munlapamok giúp tối ưu hóa bộ máy quản lý nhà nước. Địa phương sắp xếp lại cán bộ lãnh đạo theo đúng chuyên ngành đào tạo và sở trường công tác. Kỹ năng lãnh đạo cải thiện giúp nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính và tranh chấp dân sự. Tỷ lệ hòa giải thành công ở cơ sở tăng lên rõ rệt, đảm bảo bình yên cho các thôn bản. Mô hình chỉ đạo gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng an ninh, tạo điều kiện thuận lợi thu hút đầu tư nông nghiệp.

4.2. Bài học kinh nghiệm và định hướng phát triển lâu dài

Thực tiễn công tác cán bộ tại huyện Munlapamok rút ra bài học sâu sắc về sự kết hợp giữa đào tạo lý luận và rèn luyện đạo đức. Muốn nâng cao chất lượng cán bộ, cấp ủy phải thực sự xem cán bộ là cái gốc của mọi thắng lợi. Định hướng lâu dài cần tập trung xây dựng thế hệ cán bộ kế cận có tư duy chiến lược và tinh thần phụng sự nhân dân. Việc số hóa hồ sơ quản lý và chuẩn hóa đánh giá công chức là xu thế tất yếu. Huyện cần duy trì liên tục công tác đào tạo, bồi dưỡng để thích ứng linh hoạt với bối cảnh hội nhập quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở huyện munlapamok tỉnh chăm pa sắc nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Một số khái niệm 1. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 1. Cán bộ Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành.

Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [912, tr. Ở đây, Hồ Chí Minh không đơn thuần nói về người có chức, có quyền trong bộ máy nhà nước và đoàn thể mà nêu lên những nét căn bản nhất về nhân cách người cán bộ. Ở đây, Người chỉ rõ: cán bộ là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ với quần chúng. Trong “Từ điển tiếng Việt” cán bộ được hiểu ở hai nghĩa: Người làm việc, công tác trong cơ quan nhà nước với các công việc chuyên môn được đào tạo; Người làm trong cơ quan nhà nước, có chức vụ ở một cơ quan, một tổ chức.

Cán bộ theo nghĩa này nhằm để phân biệt với người không có chức vụ, nhân viên. Theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là những người thoát ly, làm việc trong bộ máy Đảng, Chính quyền, Đoàn thể và Lực lượng vũ trang. Ở góc độ hành chính, cán bộ được coi là những người có mức lương từ cán sự (theo bậc ngạch cũ) trở lên, để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn. Ở nước CHDCND Lào, trước đây thuật ngữ “cán bộ” được hiểu là tất cả những người làm việc trong biên chế Nhà nước đều là cán bộ.

Khi có quan niệm công chức Nhà nước, những năm gần đây, trong các văn bản của Đảng, Nhà nước xuất hiện thuật ngữ “cán bộ, công chức” để phân biệt chức năng, nhiệm vụ và vị trí công tác của từng loại. Quan niệm cán bộ và công chức không hoàn toàn đồng nghĩa với nhau; nhưng cũng khó phân biệt rạch ròi đâu là cán bộ, đâu 7 8 là công chức. Vì vậy, trong các văn bản thường gọi chung là “cán bộ, công chức” Như vậy, dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, ở lĩnh vực cụ thể có khác nhau, nhưng về cơ bản có thể thấy những đặc trưng cơ bản của cán bộ như sau: Có thể hiểu một cách chung nhất, cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức trách, vai trò nòng cốt trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị; có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, huyện , thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.

Từ đó, có thể định nghĩa một cách chung nhất: “Cán bộ là những người có vai trò, giữ chức vụ và cương vị nòng cốt trong một tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, điều hành, định hướng sự phát triển của tổ chức”. Cán bộ chủ chốt Khi bàn về từng loại cán bộ cụ thể và cán bộ chủ chốt vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau trong các cụm từ này. Một số ý kiến cho rằng tất cả đảng viên Đảng NDCM Lào làm việc trong cơ quan của tỉnh, huyện là cán bộ chủ chốt. Nhiều người cho rằng, tất cả những người có cương vị trong cơ quan, đơn vị đều là cán bộ chủ chốt, cũng có ý kiến cho rằng, chỉ những người có cương vị và làm công tác Đảng mới là cán bộ chủ chốt.

Loại thứ ba, coi tất cả những lãnh đạo và quản lý của cấp uỷ và lãnh đạo đầu ngành là cán bộ chủ chốt. 8 9 Sự tồn tại những loại ý kiến khác nhau nêu trên bộc lộ sự lúng túng và chưa thống nhất trong nhận thức khái niệm cán bộ chủ chốt. Cán bộ chủ chốt gồm cán bộ quản lý chủ chốt và cán bộ lãnh đạo quản lý, đó là các cán bộ lãnh đạo trong tỉnh ủy, ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân, các ban và các sở cấp tỉnh, cấp huyện. Cán bộ chủ chốt là những người giữ vị trí đứng đầu quan trọng nhất, giữ chức vụ và trách nhiệm cao nhất trong một tổ chức, một cơ quan, có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của tổ chức, của bộ máy; có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của bộ máy; được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo, quản lý để điều hành và tổ chức thực thi các nhiệm vụ được giao.

Cán bộ chủ chốt trước hết là những người cán bộ lãnh đạo, nhưng là người cán bộ lãnh đạo quan trọng nhất trong các người lãnh đạo. Đó là những người trực tiếp xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách do cấp trên giao phó và thực hiện chiến lược, kế hoạch cấp mình đề ra trong từng thời kỳ. Đó là những người chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động cấp uỷ hoặc tổ chức cơ quan mà họ đứng đầu. Việc xác định cán bộ chủ chốt hay không chủ chốt là căn cứ vào chức trách cụ thể của mỗi cán bộ và đặt nó trong mối quan hệ toàn bộ hệ thống tổ chức.

Có cán bộ ở cương vị này, trong tổ chức này là chủ chốt, nhưng trong mối quan hệ khác, vị trí khác thì lại không phải là chủ chốt. Qua các văn kiện, tài liệu Đảng, Nhà nước Lào khái niệm “cán bộ chủ chốt” có thể được hiểu là những người: - Giữ các vị trí Trưởng, Phó trong cơ quan thường trực của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân ở các ngành, các địa phương. - Những người có trách nhiệm chính trong việc triển khai tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, của cấp trên tại địa phương, đơn vị mình. 9 10 - Giữ vai trò quyết định trong việc đề ra các quyết định, chỉ thị, nghị quyết và tổ chức thực hiện trong phạm vị địa phương, đơn vị.

Theo từ điển tiếng Việt, chủ chốt thuộc loại từ tính từ có nghĩa là “quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt” [27, tr. Như vậy, nói đến chủ chốt là nói đến mối quan hệ trong một tập hợp nhất định có nhiều phần tử, nhiều đối tượng và vị trí, tính chất của những phần tử, đối tượng tập hợp ấy. Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về cán bộ chủ chốt. Tuy nhiên, nội hàm khái niệm này có thể thống nhất ở mấy điểm sau: - Là người có chức năng lãnh đạo, được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng nhất để lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, chịu trách nhiệm trước tập thể và cấp trên về nhiệm vụ được phân công.

- Là người có trách nhiệm tiếp cận các chủ trương, chính sách về một lĩnh vực nào đó từ cấp trên. - Là người có vai trò quan trọng nhất trong việc cụ thể hóa, hiện thực hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước vào điều kiện ở cơ sở. - Có thầm quyền giải quyết các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… trong phạm vi phụ trách bằng những hình thức khác nhau. Từ những nội dung trình bày nêu trên, chúng ta có thể hiểu CBCC là người có chức vụ, nắm giữ các vị trí quan trọng, có tác dụng làm nòng cốt trong các tổ chức thuộc hệ thống bộ máy của một cấp nhất định; người được giao đảm đương các nhiệm vụ quan trọng để lãnh đạo, quản lý, điều hành bộ máy thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về lĩnh vực công tác được giao.

Cán bộ chủ chốt là người có vị trí quan trọng, giữ vai trò quyết định trong việc xác định phương hướng, mục tiêu, phương pháp công tác; đề ra các quyết định và tổ chức thực hiện tốt các quyết định của cấp mình hoặc cấp trên giao. Kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc; bổ sung, điều chỉnh kịp thời gian những giải pháp mới khi cần thiết; đúc rút kinh 10 11 nghiệm, tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn chỉnh lý luận. Đồng thời, CBCC còn là người giữ vai trò đoàn kết, tập hợp, phát huy sức mạnh của quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và xây dựng nội bộ tổ chức vững mạnh. Cán bộ chủ chốt là những người đại diện một tổ chức, một tập thể.

chủ yếu do bổ nhiệm hoặc bầu cử, giữ một chức vụ trọng yếu trong cơ quan Đảng, Chính quyền ( cấp trưởng , cấp phó); trưởng các đoàn thể và là những người chịu trách nhiệm trước cấp trên và cấp mình về mọi hoạt động của địa phương, đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được đảm nhận. Từ đây có thể hiểu: Cán bộ lãnh đạo chủ chốt là những người đứng đầu, giữ vị trí trọng yếu trong hệ thống chính trị, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc chấp hành chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước thông qua việc trực tiếp lãnh đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên địa bàn. Chất lượng cán bộ chủ chốt cấp huyện Trong đại từ điển Tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên cho rằng: “chất lượng” là: cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật: chất lượng hàng hóa, cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia, phân biệt với số lượng [2730, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam chỉ rõ: Chất lượng là phạm trù triết học biểu hiện những thuộc tính, bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác [20, tr.

Chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, của một sự vật, sự việc. Cấp huyện Theo Hiến pháp của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thì hệ thống hành chính của đất nước gồm bốn cấp: Cấp cao nhất là cấp trung ương, tiếp theo là cấp tỉnh, cấp huyện, và cấp bản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ