CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về hà thủ ô đỏ 1.1 Cây hà thủ ô đỏ Hà thủ ô đỏ (HTOĐ) có tên khoa học là Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson, thuộc họ Rau răm (Polygonaceae), bộ Cẩm chướng (Caryophyllales) [1]. Hà thủ ô đỏ chủ yếu được biết đến như là một vị thuốc bổ, trị suy nhược thần kinh, ích huyết, khỏe gân cốt, đen râu tóc…, còn có một số tên gọi khác như giao đằng, dạ hợp, má ỏn, mằn năng ón (Tày), khua lình (Thái), xạ ú sí (Dao) [4]. Hà thủ ô đỏ là cây sống lâu năm, thân mềm, dạng dây leo quấn với nhau, rễ phình to thành củ màu đỏ. Lá hình tim, đầu nhọn, dài 5-7 cm, rộng 3-5 cm.
Cụm hoa hình chùy mọc ở đầu cành hoặc nách lá, mang nhiều hoa. Hoa nhỏ, màu trắng, 3 mảnh vòng ngoài lớn lên cùng quả. Quả 3 cạnh, khô, không tự mở; cuống dài khoảng 2 cm, phủ lông tơ, bẹ chìa mỏng, ngắn, có lông dài. Mùa hoa từ tháng 9-11; mùa quả từ tháng 12-2 hằng năm.
Bộ phận dùng là rễ củ của cây. Cây sống lâu năm, ưa khí hậu nóng ẩm, đất xốp, thoát nước, ưa sáng. Thường gặp ở ven rừng, các lỗ trống trong rừng hay trên các trảng cỏ cây bụi có cây gỗ rải rác, có khả năng tái sinh tự nhiên bằng hạt và bằng chồi thân tốt [4].1 Hình ảnh cây hà thủ ô đỏ Cây mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi từ Nghệ An trở ra, có nhiều ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, một số tỉnh khác như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoà 3 Bình, Yên Bái có số lượng ít hơn. Hiện nay, HTO được trồng ở nhiều vùng ở phía Bắc (Vĩnh Phú) và cả ở phía Nam, cây mọc tốt ở Lâm Đồng, Đắc Lắc, Phú Yên, Bình Định.
HTOĐ ra quả hằng năm, mỗi cây có thể ra nhiều quả. Sau khi quả già, phần thân leo trên mặt đất làm hạt giống phát tán xung quanh và sẽ nảy mầm vào mùa xuân hè năm sau [2].2 Dược liệu hà thủ ô đỏ Dược liệu hà thủ ô đỏ (Radix Fallopia multiflora) là phần rễ củ (phần dưới mặt đất) phơi hay sấy khô của cây HTOĐ [1]. Rễ củ tròn, hoặc hình thoi, không đều, củ nhỏ để nguyên, củ to bổ đôi theo chiều dọc, hay chặt thành từng miếng to. Mặt ngoài có những chỗ lồi lõm do các nếp nhăn ăn sâu tạo thành.
Mặt cắt ngang có lớp bần mỏng màu nâu sẫm, mô mềm vỏ màu đỏ hồng, có nhiều bột, ở giữa có ít lõi gỗ. Dược liệu hà thủ ô đỏ Dược liệu hà thủ ô đỏ cắt lát Hình 1.2 Hình ảnh dược liệu HTOĐ và dược liệu HTOĐ cắt lát Ngoài phần rễ củ dưới mặt đất, dây leo bằng thân quấn của cây HTOĐ cũng được dùng để làm bài thuốc trong y học cổ truyền. Phần thân dây mềm, nhẵn được thu hái sơ chế dùng làm dược liệu có tên khoa học là Caulis Polygoni Multiflori [19], tên thường gọi là Dạ Giao Đằng [3].3 Thành phần hóa học 1.1 Thành phần hóa học Qua nghiên cứu các nhà khoa học thấy rằng trong củ HTO chứa khoảng 1,7% anthraquinon, trong đó có emodin, chrysophanol, rhein, PS; 1,1% protid, 45,2% tinh bột, 3,1% lipid, 4,5% chất vô cơ, 26,4% các chất tan trong nước, lecitin, rhaponticin 4 (rhapontin, ponticin), 2,3,5,4’-tetrahydroxytiben-2-O-β-D-glucosid. Đặc biệt, hàm lượng các hoạt chất thay đổi rõ rệt sau khi chế biến.
Lúc chưa chế, HTO chứa 7,68% tanin, 0,25% dẫn chất anthraquinon tự do, 0,8058% dẫn chất anthraquinon toàn phần. Sau khi chế, còn 3,82% tanin. 0,1127% dẫn chất anthraquinon tự do và 0,2496% dẫn chất anthraquinon toàn phần [4]. Trong đó, stilbenoid và anthraquinon là hai nhóm chất đặc trưng cho HTOĐ, được các nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước quan tâm, đặc biệt là được Dược điển một số nước dùng làm chất đối chiếu trong kiểm tra, đánh giá chất lượng dược liệu HTOĐ.2 Thành phần stilbenoid trong hà thủ ô đỏ Stilbenoid là là một nhóm chất có chung một cấu trúc mạch cacbon là C6-C2- C6 (xem hình 1.
Stilbenoid thuộc nhóm các hợp chất phenylpropanoids [14]. Một số stilbenoid đã được tìm thấy trong thực vật và khẳng định về hoạt tính đặc trưng của chúng như piceatannolin có trong rễ của cây vân sam Na Uy. Hay pinosylvin là một độc tố nấm bảo vệ gỗ khỏi bị nhiễm trùng nấm, được tìm thấy trong cây họ thông. Pterostilbene có trong hạnh nhân, cây thông và quả mọng; Resveratrol là một stilben đặc biệt quan trọng có trong nho, hà thủ ô, cốt khí củ… được nhiều nghiên cứu chứng minh rằng có các tác dụng tích cực đến sức khỏe con người [14].
Các dẫn xuất stilben (2,3,5,4′-tetrahydroxystilben-2-O-β-D-glucosid, resveratrol, piceid) cũng được tìm thấy trong HTOĐ với nhiều tác dụng sinh học như: tác dụng chống oxi hóa, điều hòa cân nặng [4], tác dụng trên tim mạch [16], tác dụng chống dị ứng [23], tác dụng kháng viêm [11]. Ngoài ra còn có tác dụng chống khối u, đặc biệt là ngăn ngừa ung thư vú, ở liều thấp cũng chỉ ra khả năng làm giảm quá trình di căn [11].3 Khung mạch cacbon cơ bản của nhóm chất stilben 5 Cis-resveratrol 2,3,5,4′- Trans-resveratrol Piceid tetrahydroxystilben- 2-O-β-D-glucosid (THSG) Hình 1.4 CTCT một số hợp chất stilben có trong dược liệu HTOĐ 1.3 Thành phần anthraquinon trong hà thủ ô đỏ Những hợp chất anthraquinon nằm trong nhóm lớn hydroxyquinon (xem hình 1. Anthraquinon khi tồn tại dưới dạng glycosid thì được gọi là anthraglycosid hay anthracenosid. Cũng như các loại glycosid khác, anthraglycosid là những glycosid khi bị thuỷ phân sẽ cho phần đường và phần aglycon (genin).
Đa số các anthraglycosid là các polyoxy anthraquinon. Gắn vào nhân thường có các nhóm chức -OH, -OCH3, -CH3, -COOH. Những dẫn chất anthraquinon đều có màu từ vàng, vàng cam đến đỏ [13]. Một số dẫn xuất anthraquinon phổ biến trong dược liệu đã được nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới công bố về sự có mặt của chúng, đồng thời, tác dụng dược lý của những chất này được chứng minh và công nhận.
Ví dụ, trong cây lô hội: aloin và emodin có tác dụng kích thích ruột và có tính chất kháng sinh, nó dùng để chống vi khuẩn, virus và như thuốc giảm đau. Aloe-emodin giúp da chống lão hóa. Barbaloin chiếm 15-30% thành phần nhựa của lô hội giúp cho da giữ ẩm. Hỗn hợp các anthraquinon tác dụng giảm đau, trị viêm da, ngăn ngừa tối đa sự xâm nhập của các độc tố, vi khuẩn [13].
Emodin có tác dụng nhuận tràng, hạ hỏa, giải độc, hoạt huyết, tác dụng lợi mật, cầm máu, kháng khuẩn, lợi tiểu, bảo vệ gan và giảm cholesterol máu; rhein trực tiếp ức chế sự sinh trưởng của tế bào ung thư vú và ung thư gan [3]. Các hoạt chất anthraquinon từ một số cây thuốc được dùng để điều chế Diacerein làm thuốc chống thoái hóa khớp. Một số thuốc trị táo bón có chứa dẫn chất 6 anthraquinon hoặc dược liệu chứa anthraquinon dùng trong đông y lẫn tây y như: phan tả diệp (cascara senna), đại hoàng (rhubarbe), lô hội (aloe) [13]. Trong dược liệu HTOĐ, anthraquinon là thành phần đặc trưng được chứng minh có nhiều tác dụng dược lý như: bảo vệ gan, nhuận tràng [3].
Một số thành phần anthraquinon đã được tìm thấy trong HTOĐ gồm: Emodin, physcion, emodin 8-O-β- D-glucosid, physcion 8-O-β-D-glucosid, rhein,…( xem hình 1. Trong đó, emodin (EM) và physcion (PS) là hai hợp chất quan trọng, được Dược điển Trung Quốc, Dược điển Mỹ dùng làm chất đánh dấu trong kiểm tra chất lượng HTOĐ.5 Khung mạch cacbon cơ bản của hợp chất anthraquinon Emodin 8-O-β-D-glucosid Emodin Physcion 8-O-β-D-glucosid Physcion Rhein Chrysophanol Aloe-Emodin Hình 1.6 CTCT của một số hợp chất anthraquinon trong dược liệu HTOĐ Emodin là một anthraquinon tự do có công thức phân tử là C15H10O5, phân tử lượng là 270,24 đvC [4]. Tác dụng dược lý của EM bao gồm một số tác dụng chính 7 như lợi niệu, giải độc. Thực tế thử nghiệm trên chuột cho thấy EM có tác dụng bảo vệ tế bào gan, phục hồi chức năng gan nhiễm mỡ, cải thiện khả năng hoạt động của gan, giảm các triệu chứng bệnh lý của gan.
Với liều 75mg/kg có tác dụng ức chế ung thư vú ở chuột. EM cũng có khả năng chống ung thư phổi, ung thư gan, ung thư cổ ở người do tác dụng ức chế hiện tượng đột biến gen, gây độc với tế bào ung thư [9]. EM có tác dụng lên màng sinh học, có ái lực cao với các màng phospholipid vì thế có khả năng kháng virus, vi khuẩn [9]. Ngoài ra EM còn có khả năng chống loãng xương, nâng cao thể trạng, ổn định tuần hoàn máu, nhuận tràng [3].
Physcion cũng là một anthraquinon tự do, có công thức phân tử là C16H12O5, phân tử lượng là 284,26 đvC [22]. Tác dụng chính là thông đại tiện, tiêu tích trệ, làm tan máu ứ, hạ hoả giải độc [3]. Công dụng và tác dụng dược lý của hà thủ ô đỏ Hiện nay, cả đông và tây y đều công nhận về công dụng chữa bệnh của cây thuốc quý hà thủ ô. HTO có vị đắng chát, hơi ngọt, tính bình; có tác dụng bổ huyết giữ tinh, điều hoà khí huyết, bổ gan thận, mạnh gân xương, nhuận tràng [3].Thử trên động vật thí nghiệm, người ta nhận thấy nước sắc HTO có tác dụng làm giảm lượng đường trong máu, có tác dụng tốt đối với các trường hợp suy nhược thần kinh và bệnh về thần kinh, làm tăng hoạt động của tim, giúp sinh huyết dịch, làm tăng sự co bóp của ruột, giúp ích cho sự tiêu hoá, lại có tác dụng chống viêm [3].
Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã công bố tác dụng dược lý của dược liệu, cao chiết và các thành phần hóa học trong HTOĐ như: stilbenoid (THSG, resveratrol, piceid.) có tác dụng chính là chống lão hóa, máu nhiễm mỡ, viêm, chống khối u; các anthranoid dạng tự do như EM, PS,… có tác dụng chính là bảo vệ gan, bổ huyết, điều hòa khí huyết; các dẫn xuất anthranoid glycosid làm tăng cường hệ miễn dịch, các flavonoid có tác dụng chống oxi hóa [17].1 Trong y học cổ truyền Y học cổ truyền dùng HTOĐ làm thuốc bổ, trị thần kinh suy nhược, các bệnh về thần kinh, ích huyết khỏe gân cốt, sống lâu, làm đen râu tóc. Thuốc dùng cho những người có râu tóc bạc sớm, rụng tóc, lưng gối đau mỏi, di tinh…[3]. Đối với phụ nữ, HTOĐ được dùng chữa các bệnh sau khi đẻ, các bệnh xích bạch đới… dùng dưới dạng thuốc sắc, thuốc rượu hoặc thuốc bột [1]. 8 Bổ máu, trị thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối, di mộng tinh, bạch đới, đại tiểu tiện ra máu, mẩn ngứa.
Uống lâu làm đen râu tóc đối với người bạc tóc sớm, làm tóc đỡ khô và đỡ rụng [3]. Ngoài rễ củ HTOĐ, người ta còn dùng lá và cành HTOĐ, đun nước tắm và rửa để chữa các chứng lở ngứa. Có thể phối hợp nấu với lá ngải [3].