Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ DU LỊCH 1. QUAN NIỆM VỀ KINH TẾ DU LỊCH VÀ TÍNH TẤT YẾU PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH 1. Kinh tế du lịch và đặc điểm của kinh tế du lịch 1. Kinh tế du lịch - Du lịch là hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến. Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, công trình do lao động sáng tạo của con người tạo ra và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, khu đô thị du lịch. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết, thỏa mãn nhu cầu của khác du lịch trong chuyến đi du lịch. Thời xa xưa, hoạt động du lịch không tổ chức thành một lĩnh vực phục vụ chuyên nghiệp cho việc vận chuyển, ăn, ở, hướng dẫn tham quan, nghiên cứu v.v… Khách du lịch phải tự tổ chức chuyến đi, mang theo hành lý, tư trang, đồ ăn.
Chưa có các nhà hoạt động du lịch chuyên nghiệp với những dịch vụ đa dạng, phong phú như ngày nay và càng chưa thể có việc tổ chức các chương trình du lịch để giới thiệu, bán và thực hiện các chương trình ấy. Do sự phát triển của kinh tế - xã hội, mức sống và thu nhập của con người ngày càng tăng lên. Từ nhu cầu về ăn, uống, mặc, ở, con người đã phát sinh ra các nhu cầu mới, như đi lại, nghỉ ngơi, tham quan, dưỡng sức… Nhu cầu về du lịch đã trở thành tất yếu trong cấu trúc nhu cầu của đời sống xã hội. 12 Để đáp ứng nhu cầu này, quá trình phân công lao động xã hội và sự phát triển kinh tế thị trường đã thúc đẩy ra đời một lĩnh vực chuyên nghiệp mới – đó là ngành KTDL.
Từ thực tế lịch sử cho thấy, để ra đời và phát triển ngành du lịch cần có các điều kiện sau: Một là, nền kinh tế phải phát triển ở một trình độ nhất định, người dân có thu nhập đủ sống mới có điều kiện du lịch. Hai là, cơ sở hạ tầng của nền kinh tế phát triển đến một trình độ nhất định, đặc biệt là ngành nghề phục vụ ngành du lịch như giao thông, vận tải, các dịch vụ ăn nghỉ, vui chơi, giải trí v.v… Ba là, có nguồn nhân lực đủ đáp ứng nhu cầu phát triển ngành du lịch. Bốn là, ngoài sức thu hút bởi tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, để hoạt động du lịch được tồn tại và phát triển cần phải bảo đảm về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm cho du khách. KTDL là hoạt động có tính chuyên nghiệp.
Trong ngành đó, có những người chuyên làm công việc xây dựng, tiếp thị, quảng bá và thực hiện các chương trình du lịch phục vụ nhu cầu đa dạng của du khách, mà trong nghề thường gọi là các tour. Nói cách khác, du lịch là một ngành kinh tế có chức năng tổ chức các dịch vụ phục vụ những nhu cầu du lịch của khách như: đi lại, ăn ở, vui chơi, nghỉ ngơi, thăm viếng, tham quan, khám phá, thử thách… Cũng có thể hiểu, KTDL là một lĩnh vực thuộc ngành kinh tế dịch vụ, bằng hoạt động cung ứng sản phẩm du lịch, thông qua các tổ chức sản xuất kinh doanh thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch, nhằm thu được lợi ích kinh tế và xã hội từ các hoạt động đó. - Hoạt động KTDL có thể được phân chia thành hai loại hình căn cứ vào tài nguyên du lịch là: du lịch văn hóa và du lịch thiên nhiên. 13 Du lịch văn hóa là du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn.
Tài nguyên du lịch bao gồm hai loại: (1) Các di sản văn hóa vật thể: các di tích khảo cổ và lịch sử, các đô thị, các kiến trúc cổ; các địa phương có những sự kiện lịch sử như chiến khu cách mạng, các chiến trường, các công trình kiến trúc có giá trị như lăng mộ, đình chùa, nhà thờ…; những tác phẩm nghệ thuật, điêu khắc như bức tranh, bức tượng, các trang phục truyền thống, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. (2) Các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: nghệ thuật sân khấu, các điệu múa, nhạc, hát kịch; các tập tục truyền thống, các lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng; các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quán, kỹ thuật canh tác… Việt Nam là nước có nhiều di tích lịch sử, có nền văn hóa hết sức phong phú và lâu đời nên có thế mạnh về du lịch văn hóa. Du lịch thiên nhiên là du lịch đưa khách về những nơi có điều kiện, môi trường thiên nhiên trong lành, cảnh quan thiên nhiên mới lạ và hấp dẫn. Việt Nam là nước có nhiều tiềm năng để phát triển loại hình du lịch thiên nhiên với thắng cảnh tự nhiên nổi tiếng như Vịnh Hạ Long, quần đảo Cát Bà, Tam Cốc – Bích Động, Phong Nha – Kẻ Bàng v.v… - Hoạt động KTDL có thể căn cứ vào mục đích chuyến đi của du khách mà phân chia thành: du lịch công vụ, du lịch mua sắm, du lịch du ngoạn, du lịch thăm viếng người thân, du lịch tôn giáo.
Du lịch công vụ là hoạt động phục vụ khách nước ngoài đến một quốc gia đàm phán ngoại giao, thăm viếng hữu nghị…, xen kẽ với công việc chung được xắp xếp một hoặc một số hoạt động du lịch. Du lịch mua sắm là hoạt động phục vụ khách du lịch đến một quốc gia hay một địa phương để tìm hiểu thị trường, môi trường đầu tư, đàm phán kinh tế, tham quan các danh lam thắng cảnh, trong đó có ăn, ở khách sạn, mời tiệc xã giao; mua sắm hàng hóa, sản phẩm được bán tại địa phương đó. Ngày này, dịch vụ mua sắm đã trở thành bộ phận hợp thành quan trọng của hoạt động du lịch ở nhiều nước. 14 Du lịch du ngoạn là hoạt động đưa du khác đến một quốc gia hoặc một vùng để hưởng ngoạn phong cảnh thiên nhiên và các di tích lịch sử, thông qua lữ hành đạt được sự hưởng thụ cái đẹp, vui vẻ ngày nghỉ ngơi.
Đây là hình thức kinh doanh du lịch chủ yếu nhất trên thế giới hiện nay. Du lịch thăm viếng người thân là hoạt động đưa du khách về quê thăm người thân, bạn bè, truy tìm cội nguồn, về lại nơi chôn rau cắt rốn, thăm chiến trường xưa… Tuy hoạt động này chiếm tỷ trọng không lớn trong giá trị sản lượng du lịch trên thế giới, nhưng xu thế ngày nay một số người đi du lịch tìm về cội nguồn và thăm viếng người thân ngày càng tăng. Du lịch tôn giáo là hoạt động du lịch cổ xưa và vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nhiều quốc gia ở châu Á có chùa chiền cổ, trung tâm tôn giáo lớn; ở châu Âu có nhiều nhà thờ lịch sử lâu đời với những kiểu kiến trúc đặc trưng, đa dạng đã thu hút các tín đồ tôn giáo thuộc các tín ngưỡng khác nhau và nhiều khách tham quan.
- Hoạt động KTDL còn có thể căn cứ vào phạm vi lãnh thổ mà chia ra thành: du lịch quốc tế, du lịch nội địa và du lịch quốc gia. Du lịch quốc tế là hoạt động đưa khách du lịch quốc tế đến tham quan du lịch và đi ra du lịch nước ngoài. Ví dụ ở Việt Nam thì đây là hoạt động du lịch đón khách và du lịch gửi khách. Du lịch đón khách là hoạt động du lịch quốc tế phục vụ, đón tiếp khách nước ngoài đi du lịch, nghỉ ngơi, thăm quan các sản phẩm du lịch trong nước.
Du lịch gửi khách là hoạt động đưa khách trong nước đi du lịch ở nước ngoài. Du lịch nội địa là hoạt động tổ chức, phục vụ người đi trong nước đi du lịch, nghỉ ngơi, tham quan du lịch trong lãnh thổ quốc gia, về cơ bản không có giao dịch thanh toán bằng ngoại tệ. Ngoài ra, hoạt động du lịch còn được phân chia căn cứ vào phương diện đi, đến như: du lịch xe đạp, du lịch ô tô, du lịch bằng tầu hỏa, du lịch bằng tầu thủy, du lịch bằng máy bay. Ở nước ta, trong dịp tết nguyên đán năm 2010 đã tương 15 đối phát triển du lịch bằng xe ô tô buýt.
Khách quốc tế đến Việt Nam rất thích loại hình du lịch này để tham quan các địa điểm du lịch. Để tổ chức các loại hình du lịch trên, ở các nước, người ta có thể dựa vào công ty có tính chuyên nghiệp trong một lĩnh vực, nhưng cũng có thể tổ chức công ty kinh doanh du lịch hỗn hợp, hoặc phối hợp với các công ty du lịch, phối hợp công ty du lịch với các doanh nghiệp thuộc các ngành kinh tế có liên quan. Tất cả các hoạt động trên đều được gọi là KTDL. Ở nhiều nước, ngành KTDL đã có lịch sử hàng trăm năm.
Còn ở Việt Nam, đây còn là lĩnh vực mới mẻ, đầy tiềm năng và đang phát triển rất mạnh. Hiện nay, ở nhiều nước, KTDL đã trở thành ngành kinh tế động lực thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác. Ở Việt Nam, du lịch được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, đóng vai trò trong yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đặc điểm của kinh tế du lịch KTDL là một bộ phận của ngành kinh tế dịch vụ và nằm trong hệ thống các ngành kinh tế quốc dân, nhưng có tính chất đặc thù, nên hoạt động có tính riêng biệt và độc lập tương đối.
hoạt động của ngành du lịch có những đặc điểm như sau: Một là, việc cung ứng sản phẩm du lịch có tính chất thời vụ rất cao. Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của du khách. Thông thường, sản phẩm du lịch được tạo ra gắn liền với tài nguyên du lịch, nên không thể di chuyển được. Không thể di chuyển sản phẩm du lịch từ địa điểm này sang địa điểm khác, cho nên bắt buộc khách du lịch phải đến tận nơi có sản phẩm du lịch để thỏa mãn nhu cầu du lịch của mình.