Chương 1: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TÂY NAM TỈNH QUẢNG NAM 1. Một số vấn đề chung về kinh tế miền núi 1. Khái niệm kinh tế Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội; nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Nghĩa rộng của từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian, thường là một năm.
Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế. Kinh tế là hoạt động sản xuất của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế độ xã hội; là tổng hòa các mối quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức, quản lý và quan hệ phân phối, lưu thông sản phẩm xã hội), dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của chế độ xã hội hay cơ sở hạ tầng kinh tế của xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt, kinh tế được các nhà khoa học nhìn nhận là: “Tổng thể những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất”, hay “có tác dụng mang lại hiệu quả tương đối lớn so với sức người, sức của và thời gian tương đối ít bỏ ra” [81, tr.
Theo đó, kinh tế có thể được nhìn nhận là khái niệm biểu hiện hệ thống tri thức học thuật về mối liên hệ theo quy luật, hiện thực khách quan giữa các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp (kinh tế vật thể), kinh doanh thương mại (kinh tế phi vật thể), dịch vụ tiêu dùng (kinh tế thị trường), tức kinh tế trong sử dụng nhân lực (sức lao động), tài lực (tiền vốn), vật lực (tài nguyên), bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, thỏa mãn nhu cầu vật chất của cộng đồng. Mô hình cấu trúc của kinh tế có thể được biểu thị như sau: kinh tế thương mại (kinh doanh: giá trị) - kinh tế thị trường (dịch vụ: tiêu dùng) - kinh tế công nghiệp, nông nghiệp (sản xuất: hàng hóa). Nói đến kinh tế có nhiều lĩnh vực ngành kinh tế gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, khai mỏ và khai khoáng; công nghiệp và xây dựng; thương mại, dịch vụ (giao thông, tài chính, ăn uống, du lịch, giải trí…); giáo dục, nghiên cứu và phát triển, thông tin, tư vấn… Ở Việt Nam, từ Đại hội VI đến Đại hội XII của Đảng đã xác định về mô hình kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), cũng như mối quan hệ và sự kết hợp giữa Nhà nước với thị trường là cả một quá trình tìm tòi, trải nghiệm, phát triển từ thấp lên cao, ngày càng đầy đủ và hoàn thiện hơn. 7 Đến Đại hội XII, mô hình KTTT định hướng XHCN ở nước ta đã được khắc họa rõ nét và đầy đủ hơn.
Báo cáo tại Đại hội XII của Đảng đã nhấn mạnh: “Thống nhất nhận thức nền KTTT định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường; đồng thời, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế-xã hội…” [30, tr.
Một số nội dung về kinh tế miền núi Kinh tế miền núi gắn với đồng bào các dân tộc thiểu số, ở miền núi Quảng Nam nói chung, khu vực Tây Nam nói riêng phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, để phát triển kinh tế ở nơi đây, đòi hỏi phải nắm rõ đặc tính, bản sắc văn hóa của đồng bào các DTTS để đưa ra những chính sách phù hợp cho phát triển kinh tế, vì vậy phát triển kinh tế ở miền núi đồng thời là phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trong 9 huyện miền núi của tỉnh thì có 8 huyện là nơi đồng bào các DTTS sinh sống và cư trú từ lâu đời ở phía Tây của tỉnh, dọc biên giới với Lào; với nhiều thành phần dân tộc khác nhau, các thành phần dân tộc cư trú đan xen lẫn nhau và phân tán trên từng khu vực, ở khu vực Tây Nam Quảng Nam, đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống chiếm 3/4 diện tích của toàn vùng, là nơi có nguồn tài nguyên phong phú, với điều kiện tự nhiên đặc thù, chính quyền địa phương đã tranh thủ những lợi thế để phát triển kinh tế ở nơi đây. Ngoài những điều kiện tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế thì những điều kiện của xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế ở miền núi vì đồng bào các DTTS có truyền thống đoàn kết, gắn bó với nhau từ lâu đời, xuyên suốt trong các thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước. Lịch sử dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm qua đã khẳng định, các DTTS là một lực lượng cơ bản, không thể thay thế trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước.
Đặc biệt, trong những năm kháng chiến chống thực 8 dân và đế quốc xâm lược, vùng miền núi còn là vùng căn cứ vững chắc của cách mạng, tạo động lực để phát triển kinh tế, xây dựng quê hương; chính vì vậy vấn đề phát triển kinh tế ở nơi đây còn gắn với sự phát triển của xã hội. Kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số phần lớn là kinh tế nông lâm nghiệp và các ngành nghề thủ công truyền thống, dựa vào thế mạnh từ nguồn lợi điều kiện tự nhiên. Nhằm mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng DTTS; trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm, lãnh đạo tập trung phát triển kinh tế, trong đó đặc biệt quan tâm phát triển kinh tế miền núi, vùng đồng bào DTTS cùng với sự nỗ lực, cố gắng vươn lên của người dân, kinh tế ở vùng đồng bào DTTS và miền núi đã có bước phát triển rõ rệt, cơ cấu kinh tế của các địa phương có sự chuyển dịch tích cực, sinh kế của người dân ngày càng đa dạng, thu nhập được nâng lên, đời sống không ngừng cải thiện, hộ nghèo giảm khá nhanh. Khu vực Tây Nam tỉnh Quảng Nam cũng là những địa phương được hưởng sự quan tâm của Trung ương Đảng, Chính phủ, của tỉnh.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan và khách quan, đời sống của đồng bào DTTS ở ở nơi đây nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể so với dân tộc đa số, giữa miền xuôi và miền ngược. Hiện nay, vùng DTTS vẫn là những vùng nghèo, với những hủ tục lạc hậu, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp, dễ bị kích động, lôi kéo của các thế lực thù địch. Về cơ cấu kinh tế: Kinh tế ở khu vực miền núi chủ yếu là cơ cấu kinh tế theo hướng nông lâm nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Theo xu hướng chung cơ cấu kinh tế của các huyện miền núi vùng đồng bào DTTS đang chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp, thương mại, dịch vụ; giảm dần tỉ trọng nông nghiệp.
Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu lao động ở miền núi còn chậm, lao động chủ yếu vẫn làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp. Về kinh tế nông lâm nghiệp, thủy sản: Thế mạnh của các huyện miền núi và vùng đồng bào DTTS chủ yếu vẫn là phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp. Trong đó chủ yếu là chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp, cây dược liệu và phát triển kinh tế lâm nghiệp. Một số địa phương đã bước đầu phát triển các vùng sản xuất nông, lâm nghiệp hàng hóa có giá trị gia tăng cao như: keo nguyên liệu, tiêu, sắn, dứa, cây dược liệu, cây lấy gỗ và sản phẩm ngoài gỗ.
phát triển thủy sản chỉ chiếm một phần nhỏ. Đặc điểm kinh tế xã hội của các DTTS trước đây đại bộ phận đồng bào sản xuất bằng nương rẫy và phụ thuộc nước trời chủ yếu, nhưng trong những năm gần đây, với sự quan tâm đầu tư hỗ trợ của Nhà nước về sản xuất nông lâm và hỗ trợ đầu tư các công trình thủy lợi nhỏ, đồng bào DTTS đã tập trung khai hoang lúa nước, khai thông hệ thống nước tự chảy để canh tác bằng ruộng nước, trồng keo, dược liệu.; sản xuất bằng nương rẫy và phụ thuộc nước mưa đã giảm đáng kể. Tuy nhiên, tập quán sản xuất và sinh hoạt của đồng bào DTTS vẫn còn những phong tục lạc hậu chi phối, ảnh hưởng đến 9 phát triển kinh tế - xã hội; dân cư phân bố rãi rác theo cộng đồng làng, nóc; trình độ dân trí còn thấp, tiếp thu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Công nghiệp chủ yếu là chế biến nông, lâm sản; khai thác, chế biến khoáng sản; thủy điện.