Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề của luận án. Cơ sở lý luận và thực tiễn về xây dựng và phát triển các khu kinh tế. Thực trạng xây dựng và phát triển khu kinh tế ở các quốc gia châu Á.
Một số giải pháp xây dựng và phát triển Khu kinh tế Nam Thành phố Hồ Chí Minh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ ĐỀ CỦA LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu lên quan đến vai trò khu kinh tế Trong vài thập niên trở lại đây có rất nhiều nghiên cứu của các tổ chức, các nhà kinh tế học trong và ngoài nước về vai trò, tác động của việc xây dựng và phát triển các loại hình khu kinh tế (KKT) trên thế giới và đặc biệt các nghiên cứu tập trung nhiều tại khu vực châu Á. Những nghiên cứu này đã đi từ những nhận xét rất tích cực cho đến những đánh giá tiêu cực trên tất cả các mặt của KKT như: Tăng trưởng, thương mại, đầu tư, lao động, năng suất, môi trường, và xã hội,… Aggarwal (2007) [47]; ILO (1998) [83]; Heron (2004) [77].
Những tác động của KKT được nghiên cứu từ thực tiễn ở nhiều quốc gia, từ những nước đang phát triển (ĐPT) như: Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh,…cho tới một số nền kinh tế mới công nghiệp hóa (CNH) ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương như Hàn Quốc, Đài Loan. Tiêu biểu trong số này có thể kể đến các nghiên cứu của Aggarwal, Aradhna (2010) “Tác động kinh tế của các đặc khu kinh tế: Các quan điểm lý thuyết và phân tích đối với các đặc khu kinh tế mới nổi ở Ấn Độ” [48], của Lakshmana, L. và Sadni Jallab, M. Ngoài ra, tác động của các KKT đối với phát triển kinh tế của quốc gia còn được nhiều tổ chức quốc tế nghiên cứu như Tổ chức Phát triển công nghiệp 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Liên hợp quốc (UNIDO) với nghiên cứu “Các khu chế xuất: Nguyên tắc và thực tiễn”, và số liệu về KKT được phân tích trong các báo cáo về đầu tư quốc tế hàng năm của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) [106]; [107]; [108]; [109].
Nghiên cứu của Guang-weng, Meng (2003) “Những kinh nghiệm và triển vọng của khu kinh tế tự do (KKTTD) Trung Quốc sau hơn 20 năm”, nhìn lại một chặng đường hơn hai thập niên phát triển các đặc khu kinh tế (ĐKKT) của Trung Quốc, tác giả khẳng định rằng việc xây dựng các KKT với vai trò như cực tăng trưởng cho phát triển kinh tế, là cơ sở thí điểm, là công cụ cho cải cách và chính sách mở cửa của quốc gia [74]. Hay Joseph Fewsmith (1986) cho rằng, các ĐKKT được lập ra chính là nhằm để thu hút đầu tư nước ngoài, kích thích xuất khẩu, thu hút khoa học kỹ thuật tiên tiến và chuyển giao phương pháp quản lý mới [86]. Trong luận án tiến sỹ của Trịnh Mạnh Linh (2017), Đặc khu kinh tế: Kinh nghiệm của Trung Quốc và đề xuất chính sách cho Việt Nam. Tác giả cho rằng, các mô hình KKT nói chung đã có một quá trình lịch sử phát triển lâu dài, rất đa dạng về hình thức và các KKT ngày càng có vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế quốc gia và khu vực [24].
Nhìn chung, qua các nghiên cứu trên, Luận án đã đúc kết được rằng: Các loại hình KKT đã ngày càng phát huy vai trò tích cực đối với phát triển kinh tế của từng quốc gia và khu vực. Các KKT không chỉ đóng góp cho tăng trưởng qua thúc đẩy thương mại, đầu tư phát triển mà còn tham gia giải quyết vấn đề lao động tạo việc làm, ổn định xã hội. Ngày nay, KKT còn là một công cụ thử nghiệm chính sách cải cách và thu hút, chuyển giao công nghệ mới. Các nghiên cứu liên quan kinh nghiệm xây dựng và phát triển khu kinh tế các quốc gia châu Á Xuất phát từ thực tiễn khách quan, nhiều quốc gia châu Á đã xây dựng và phát triển các KKT với cách thức rất đa dạng.
Đã có không ít những công 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề xây dựng và phát triển KKT tại các quốc gia châu Á. Những nghiên cứu trên đạt được nhiều kết quả quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu gần đây cho thấy, mục tiêu phát triển các KKTTD đều phải thống nhất với các chính sách phát triển kinh tế tổng thể của đất nước, của một địa phương. Nghiên cứu của Chung Jin Kim (2007) “Nghiên cứu kế hoạch phát triển của Khu kinh tế tự do Incheon, Hàn Quốc: Dựa trên so sánh với Khu kinh tế tự do Phố Đông, Trung Quốc” cho thấy những yếu tố quyết định đến sự thành công để phát triển Khu kinh tế tự do Phố Đông có thể khái quát đó là: Quy hoạch tổng thể là yếu tố chủ yếu góp phần tạo nên sự thành công của Phố Đông; Khung khổ pháp lý cho việc hình thành KKTTD trôi chảy; Ưu đãi đầu tư mạnh mẽ sẽ thu hút được nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài; và Cải cách táo bạo để trở thành nơi thử nghiệm chính sách, cũng như địa điểm địa lý thuận lợi tiếp cận vốn, nhân tài dồi dào, thị trường lao động rẽ góp phần làm nên sự thịnh vượng của Phố Đông [60].
Jong Cheol Lee (2014) trong “Khu kinh tế tự do Incheon (Hàn Quốc)” [84]. Nghiên cứu đã phân tích tổng quan về Khu kinh tế tự do Incheon; Nêu bật những đặc điểm tự nhiên, hạ tầng, nguồn nhân lực, tài chính, khoa học công nghệ (KHCN),…và bài học thành công của KKT này, trong đó có các yếu tố như niềm đam mê và tầm nhìn để phát triển được ĐKKT. Nếu không có đam mê, nhiệt huyết và tầm nhìn thì không thể đạt được sự thành công. Cần phải liên tục nhất quán thực hiện từ chính quyền trung ương tới địa phương.
Lãnh đạo chính phủ trung ương cần phải hiểu được tại sao cần có ĐKKT ở đây và có thể hỗ trợ phát triển thành công các KKT như thế nào? Cần phải có sự phối hợp của chính phủ trung ương và chính quyền địa phương để có thể xây dựng thành công KKT. Trong nghiên cứu của Farole, T. Akinci, Ngân hàng Thế giới (WB), (2011) [65], đã nêu các vấn đề về thu hút đầu tư và tạo việc làm - mô 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình cũ và những thách thức mới, trong đó nêu bài học kinh nghiệm từ Bangladesh, Honduras, châu Mỹ, Trung Quốc, Singapore,…; Việc có thể thay đổi cấu trúc phát triển khu kinh tế đặc biệt (KKTĐB); Phát triển bền vững xã hội và môi trường. Nghiên cứu đồng thời nêu những phân tích về cải cách thể chế, thúc đẩy cải cách và phát triển kinh tế thông qua hoạt động các KKTĐB; Vấn để đảm bảo phát triển xã hội và bảo vệ môi trường bền vững, đây là vấn đến mới nổi lên trong quá trình xây dựng, hoạt động các KKT; Đề cập đến ba vấn đề hết sức quan trọng đối với hoạch định chính sách, đó là: Làm thế nào để KKT thành công trong việc thu hút các doanh nghiệp, tạo việc làm; Làm thế nào để đảm bảo rằng các KKT bền vững về mặt kinh tế và mang lại tác động tích cực, trong đó đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ cấu và cải cách kinh tế; Làm thế nào để đảm bảo rằng các KKT bền vững về thể chế, xã hội và môi trường.
Nghiên cứu về mô hình, quy mô của KKT để nó phát huy được tác dụng, tạo dựng không gian để phát triển hoạt động kinh tế đa ngành. Ngụy Đạt Chí (2014) trong “Thực hiện chuyển đổi chiến lược mô hình phát triển kinh tế từ hướng ngoại sang mở cửa” [111], đã phân tích về mô hình kinh tế mở cửa là một thể chế áp dụng để tham gia vào sự phân công, cạnh tranh quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa (TCH) nền kinh tế, nó nhấn mạnh sự điều phối, mở cửa giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế, chú trọng đến vai trò sắp xếp cơ bản của nền kinh tế thị trường (KTTT) đối với với nguồn tài nguyên trong nước, nhấn mạnh sự phát triển tự do của thương mại, đầu tư mang tính toàn cầu, chú trọng các thể chế thương mại đa phương, chuẩn tắc quốc tế trong việc vận hành nền kinh tế mang tính toàn cầu, chú trọng lợi thế so sánh, ưu thế cạnh tranh của một quốc gia trong thể chế phân công, hợp tác quốc tế, phát triển “mô hình kinh tế mở cửa” trở thành sự lựa chọn chủ yếu của các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, do mức độ rộng rãi của các quy tắc thương mại đa phương của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đưa ra và 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện, hầu như có liên quan đến các mặt của kinh tế thế giới, dẫn đến việc cần tăng cường hơn nữa hợp tác song phương, đa phương, khu vực, tiểu vùng. Vì vậy, mô hình trong tương lai cũng cần phải dẫn đầu kinh tế mở cửa, thông qua hợp tác trong liên kết ngành để hình thành nên cực tăng trưởng kinh tế mới.
Kinh nghiệm về việc lựa chọn vị trí thích hợp là một yếu tố rất quan trọng để phát triển một KKT, khẳng định quan điểm này có nghiên cứu của Ota, Tatsuyuki (2003) đã nhấn mạnh: “Với nhận thức đúng đắn trên, năm 1979 và 1980 Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng 4 ĐKKT ven biển vùng Đông Nam - Trung Quốc. Với ý tưởng ban đầu là dựa vào ưu thế địa lý ven biển, gần với các khu vực kinh tế phát triển và nhân tố người Hoa để xây dựng các ĐKKT, như Đặc khu kinh tế Thâm Quyến có vị trí địa lý gần Hồng Kông, Đặc khu kinh tế Chu Hải gần với Ma Cao, Đặc khu kinh tế Hạ Môn gần với Đài Loan và Đặc khu kinh tế Sán Đầu là quê hương của nhiều Hoa Kiều” [94]. Hay nghiên cứu của Alan Smart (2000) về các ĐKKT của Trung Quốc cũng chỉ rõ, việc lựa chọn vị trí các ĐKKT có tính đặc thù rất rõ ràng, do sự lo lắng việc nước ngoài có thể mang đến những “ô nhiễm tinh thần” nên không lựa chọn những khu vực đã phát triển mà lựa chọn những khu vực nông thôn lạc hậu, ven biển, có tính biệt lập [51]. Nói đến những kinh nghiệm phát triển một KKTTD với các ngành nghề mũi nhọn, những ngành được coi là quan trọng chiến lược cho quốc gia.