Chương 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ KIỆN TOÀN HTCT CẤP XÃ VÀ MỐI QUAN HỆ CỦA NÓ VỚI VIỆC TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở NÔNG THÔN 1. Kiện toàn HTCT cấp xã 1. HTCT và đặc điểm HTCT ở Việt Nam 1. Hệ thống chính trị Khái niệm HTCT chưa được C.Ăngghen bàn tới trong các văn phẩm của mình.
Trong lĩnh vực chính trị, các ông thường dùng thuật ngữ hệ thống khi nói về “hệ thống hành chính quan liêu”, “hệ thống đầy đủ những cấp bậc hay đẳng cấp xã hội”, hệ thống trật tự xã hội mới,… Các quan niệm này có nghĩa rộng hơn so với khái niệm HTCT mà chúng ta dùng hiện nay, đó là chế độ chính trị nói chung bao hàm hệ các các quan hệ giai cấp, quan hệ đẳng cấp. Những khái niệm được các ông dùng gần giống với khái niệm HTCT như chúng ta hiểu hiện nay và có nghĩa hẹp hơn so với khái niệm nêu trên là: Hình thức chính trị, thiết chế chính trị, thiết chế xã hội và chính trị, cơ cầu nhà nước dân chủ, cơ cấu chính quyền, kết cấu chính trị của xã hội, thể chế nhà nước,… Trong sách báo Mác xít ở các nước xã hội chủ nghĩa (kể cả nước ta) trong nhiều chục năm cũng không có khái niệm này, thay vào đó người ta sử dụng khái niệm hệ thống chuyên chính vô sản. Cho đến những năm đầu thập kỷ 80 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của thế kỷ XX, ở Liên Xô, trong các sách báo nghiên cứu pháp lý, các nhà luật học Xô viết mới dùng khái niệm hệ thống chính trị. Trong khi đó, khoa học chính trị ở các nhà nước tư bản chủ nghĩa, ít nhất từ những năm 50 của thế kỷ XX, người ta đã dùng khái niệm này, ví dụ như trong các cuốn sách: The political system of the F.G hoặc Le system politique des Etats….
Tuy nhiên, rất khó có thể tìm thấy định nghĩa về khái niệm, song dù sau đó vẫn là những nghiên cứu về các thiết chế và thể chế có chức năng thực hiện hoặc tham gia và quyền lực chính trị, thực hiện sự lãnh đạo, điều hành đất nước. Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm hệ thống chính trị được sử dụng trong Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy, Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (năm 1990). Và cho đến nay khái niệm này được sử dụng phổ biến với hai quan niệm sau đây: Quan niệm rộng, coi hệ thống chính trị không chỉ bao gồm các tổ chức, thiết chế, mà còn bao gồm cả các quan điểm, tư tưởng, truyền thống chính trị. Ví dụ, “Hệ thống chính trị là hệ thống các nhân tố bao gồm nhà nước, các đảng phái, công đoàn, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức và phong trào theo đuổi mục đích chính trị, các chuẩn mực, truyền thống và các chế định”.
Cũng có người coi hệ thống chính trị của nhân dân dưới mọi hình thức và như vậy bao gồm cả thể chế dân chủ trực tiếp và gián tiếp như trưng cầu ý dân, thăm dò dư luận.v… Nhược điểm của quan niệm này là có thể lẫn lộn khái niệm này với khái niệm có tính triết học là thượng tầng chính trị. Quan niệm hẹp, xuất phát từ góc độ Hiến định hoặc pháp định, nghĩa là chỉ xem tổ chức, thiết chế nào được Hiến pháp, pháp luật quy định rõ ràng thì mới thuộc thành phần của hệ thống chính trị. Nhược điểm của quan niệm này là không thấy sự tồn tại và ảnh hưởng thực tế và chính trị của nhiều tổ chức, nhiều thiết chế khác đang tồn tại hiện 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thực, được xã hội thừa nhận, được nhà nước và bản thân các đảng cầm quyền tạo ra hoặc chấp nhận, mặc dù không ghi nhận về mặt pháp lý. Cả hai xu hướng trên đều không phù hợp với thực tiễn chính trị và mục đích nhận thức của chính trị học.
Quan niệm đúng về hệ thống chính trị phải đạt được hai yêu cầu: Một là, phục vụ cho mục đích nhận thức về hệ thống các tổ chức, thiết chế có vai trò thực tế và được thừa nhận trong việc thực hiện quyền lực chính trị hoặc tham gia quyền lực chính trị một cách thường xuyên. Hai là, phải đủ tính khái quát để không chỉ phản ánh hiện thực chính trị ở một hay một nhóm nước mà còn phản ánh được hiện thực chính trị ở nhiều quốc gia có chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Với những yêu cầu đó có thể coi: Hệ thống chính trị là tổ hợp có tính chỉnh thể các thể chế chính trị (các cơ quan quyền lực nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức và phong trào xã hội.) được xây dựng trên các quyền và các chuẩn mực xã hội, phân bố theo một kết cấu, chức năng nhất định, vận hành theo những nguyên tắc, cơ chế và quan hệ cụ thể, nhằm thực thi quyền lực chính trị. Ở đây cần lưu ý những đặc điểm sau của hệ thống chính trị: - Là tổ chức và thiết chế: nghĩa là tồn tại dưới hình thức vật chất, có bộ máy, chứ không phải là ý thức, tư tưởng.
Do đó hệ thống chính trị chỉ là một bộ phận của cấu trúc thượng tầng xã hội chứ không phải toàn bộ, không trùng với thượng tầng kiến trúc xã hội. - Có tính hợp pháp: tính hợp pháp là khái niệm rộng hơn tính Hiến định, pháp định. Điều đó có nghĩa là có những tổ chức dù không được Hiến định, pháp định song được xã hội thừa nhận, và không đối lập với chế độ nhà nước – pháp luật hiện hành, vẫn có thể tham gia vào hệ thống chính trị. Ngược lại nếu đối lập với chế độ nhà nước – pháp luật hiện hành, đấu tranh đòi lật đổ, tiêu diệt chế độ hiện hành thì không thể là thành phần của hệ thống chính trị.
- Có mục đích, chức năng thực hiện hoặc tham gia vào thực hiện quyền lực chính trị, nghĩa là đang thường xuyên thực hiện hoặc tham gia vào sự lãnh 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đạo, điều hành đất nước. Đây là điểm để phân biệt với những tổ chức, thiết chế mang tính xã hội, kinh tế, văn hóa … khác. Cần lưu ý, khi nói các tổ chức, thiết chế có chức năng thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị thì cũng hàm ý giữa chúng có mối liên hệ nhất định. Do đó, khi nghiên cứu về hệ thống chính trị không thể đề cập tới mối liên hệ có tính chức năng giữa các tổ chức, thiết chế đó.
Đặc điểm Hệ thống chính trị ở Việt Nam Có thể nói nói HTCT nước ta về cơ bản được tổ chức gần giống như HTCT nhiều nước. HTCT nước ta bao gồm Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số tổ chức chính trị, xã hội.Các bộ phận này được kết nối với nhau theo những quan hệ, những cơ chế và nguyên tắc vận hành nhất định, trong một môi trường văn hoá chính trị đặc thù. Chính vì vậy HTCT nước ta có những đặc điểm riêng sau đây: Thứ nhất, HTCT nước ta do duy nhất một Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đặc điểm này vừa mang tính phổ biến đối với HTCT các nước xã hội chủ nghĩa, vừa mang tính đặc thù.
Tính đặc thù đó được quy định bởi vai trò, vị trí, khả năng lãnh đạo, uy tín lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thứ hai, HTCT nước ta là HTCT xã hội chủ nghĩa, được xây dựng theo mô hình Xôviết, mặc dù đang trong quá trình đổi mới hoàn thiện nhưng ảnh hưởng của chế độ tập trung quan liêu, bao cấp trong mô hình ấy đang còn nặng nề cả trong cách nghĩ, cách làm của đảng viên và nhân dân, cũng như tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Thứ ba, nền hành chính nhà nước, một bộ phận quan trọng của nhà nước ta còn rất non trẻ lại hầu như không được kế thừa gì từ quá khứ (chế độ phong kiến), bị ảnh hưởng nặng của mô hình tập trung quan liêu cao độ, nhưng phải thực hiện một loạt nhiệm vụ lịch sử mới mẻ và to lớn. * Cấu trúc của HTCT nước ta: 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com HTCT nước ta về mặt bộ máy (hệ thống thể chế) bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam gồm các đoàn thể nhân dân như Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Trong HTCT nước ta Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo nhà nước và xã hội, là hạt nhân của HTCT. Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, hệ thống tư pháp (Toà án và Viện Kiểm sát nhân dân) và chính quyền các địa phương. Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội nước ta có chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề xã hội, quốc phòng an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội. Chủ tịch nước chịu trác nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị kinh tế, văn hoá, xã hội quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước. Nhân dân các địa phương bầu ra Hội đồng nhân dân cấp mình. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực cao nhất ở địa phương.
Hội đồng nhân dân bầu ra Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, là cơ quan hành chính ở địa phương, chịu 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân. Toà án nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân, có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta.