Luận văn thạc sĩ sử dụng kỹ thuật fish để kểm tra sự hội nhập của gen il 6 phân lập từ người trong tế bào gốc phôi gà chuyển gen

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sử dụng kỹ thuật fish để kểm tra sự hội nhập của gen il 6 phân lập từ người trong tế bào gốc phôi, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2013

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. CHUYỂN GEN Ở GÀ

1.1.1. Các phương thức chuyển gen vào tế bào

1.1.2. Các phương pháp tạo gà chuyển gen

1.1.3. KỸ THUẬT LAI HUỲNH QUANG TẠI CHỖ (FISH)

1.1.4. INTERLEUKIN 6 Ở NGƯỜI

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ HÓA CHẤT

2.1.1. Đối tượng – vật liệu nghiên cứu

2.1.2. Dụng cụ và vật tư tiêu hao

2.1.3. Thiết bị nghiên cứu

2.1.4. Hoá chất sử dụng

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Tổng hợp đầu dò gắn huỳnh quang cho phản ứng lai FISH

2.2.2. Thu nhận tế bào gốc phôi gà chuyển gen IL–6 người

2.2.3. Phương pháp lai huỳnh quang tại chỗ (FISH)

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. TỔNG HỢP ĐẦU DÒ HUỲNH QUANG BẰNG PHƯƠNG PHÁP PCR

3.1.1. Thiết kế cặp mồi nhân đoạn gen IL – 6

3.1.2. Tối ưu hóa điều kiện phản ứng PCR

3.1.3. Kết quả tổng hợp đầu dò bằng phản ứng PCR

3.2. THU NHẬN TẾ BÀO GỐC PHÔI GÀ CHUYỂN GEN IL–6 NGƯỜI

3.2.1. Phân lập và nhân nuôi tế bào gốc phôi gà

3.2.2. Thu nhận và duy trì tế bào gốc phôi gà chuyển gen

3.2.3. Kiểm tra sự có mặt gen chuyển trong tế bào bằng phản ứng PCR

3.3. KẾT QUẢ LAI FISH PHÁT HIỆN GEN IL–6 TRONG cESCs

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiểm tra sự hội nhập gen IL 6 trong tế bào gốc phôi gà

Nghiên cứu về sự hội nhập của gen IL-6 trong tế bào gốc phôi gà là một lĩnh vực quan trọng trong sinh học phân tử và công nghệ tế bào. IL-6 là một cytokine có vai trò quan trọng trong nhiều quá trình sinh lý và bệnh lý, bao gồm viêm và phản ứng miễn dịch. Việc kiểm tra sự hội nhập của gen IL-6 giúp hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của nó trong tế bào gốc phôi, từ đó mở ra hướng đi mới cho các ứng dụng trong y học và nông nghiệp.

1.1. Khái niệm về gen IL 6 và vai trò của nó

Gen IL-6 mã hóa cho một cytokine có vai trò quan trọng trong việc điều hòa phản ứng viêm và miễn dịch. Cytokine này có thể kích thích sự phát triển của tế bào và tham gia vào quá trình điều hòa các phản ứng viêm. Nghiên cứu về IL-6 không chỉ giúp hiểu rõ hơn về các bệnh lý liên quan đến viêm mà còn mở ra cơ hội cho việc phát triển các liệu pháp điều trị mới.

1.2. Tế bào gốc phôi gà và tiềm năng ứng dụng

Tế bào gốc phôi gà (cESCs) có khả năng phát triển thành nhiều loại tế bào khác nhau, làm cho chúng trở thành một công cụ quý giá trong nghiên cứu và ứng dụng y học. Việc chuyển gen vào cESCs có thể tạo ra các dòng tế bào mang gen mong muốn, từ đó phát triển các mô hình nghiên cứu bệnh lý hoặc sản xuất protein dược phẩm.

II. Thách thức trong việc kiểm tra sự hội nhập gen IL 6

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc kiểm tra sự hội nhập của gen IL-6 trong tế bào gốc phôi gà cũng gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như hiệu suất chuyển gen thấp, sự ổn định của gen sau khi chuyển, và khả năng biểu hiện gen trong tế bào gốc là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng.

2.1. Hiệu suất chuyển gen và sự ổn định

Một trong những thách thức lớn nhất trong việc chuyển gen vào tế bào gốc phôi gà là đạt được hiệu suất chuyển gen cao và đảm bảo sự ổn định của gen sau khi chuyển. Các yếu tố như loại vector, phương pháp chuyển gen và điều kiện nuôi cấy đều ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng.

2.2. Khả năng biểu hiện gen trong tế bào gốc

Khả năng biểu hiện của gen IL-6 trong tế bào gốc phôi gà là một yếu tố quan trọng để đánh giá tính khả thi của nghiên cứu. Việc xác định vị trí và mức độ biểu hiện của gen trong tế bào gốc sẽ giúp hiểu rõ hơn về vai trò của nó trong các quá trình sinh lý và bệnh lý.

III. Phương pháp kiểm tra sự hội nhập gen IL 6 hiệu quả

Để kiểm tra sự hội nhập của gen IL-6, nhiều phương pháp đã được phát triển, trong đó kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (FISH) là một trong những phương pháp phổ biến nhất. Kỹ thuật này cho phép xác định vị trí của gen trong bộ nhiễm sắc thể một cách chính xác.

3.1. Kỹ thuật FISH và ứng dụng của nó

Kỹ thuật FISH sử dụng đầu dò huỳnh quang để phát hiện sự hiện diện của gen IL-6 trong tế bào gốc phôi gà. Phương pháp này cho phép quan sát trực tiếp vị trí của gen trong tế bào, từ đó cung cấp thông tin quan trọng về sự hội nhập và biểu hiện của gen.

3.2. Các bước thực hiện kỹ thuật FISH

Quy trình thực hiện kỹ thuật FISH bao gồm việc tổng hợp đầu dò, chuẩn bị mẫu tế bào, và thực hiện phản ứng lai. Mỗi bước đều cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo độ chính xác và độ nhạy của phương pháp.

IV. Kết quả nghiên cứu về sự hội nhập gen IL 6

Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy rằng gen IL-6 có thể được chuyển vào tế bào gốc phôi gà với hiệu suất nhất định. Việc xác định vị trí của gen trong tế bào gốc phôi gà đã mở ra nhiều cơ hội cho các nghiên cứu tiếp theo.

4.1. Phân tích kết quả từ kỹ thuật FISH

Kết quả từ kỹ thuật FISH cho thấy gen IL-6 đã được tích hợp thành công vào bộ gen của tế bào gốc phôi gà. Điều này chứng tỏ rằng phương pháp chuyển gen đã hoạt động hiệu quả và gen có khả năng biểu hiện trong tế bào.

4.2. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về sự hội nhập của gen IL-6 mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các giống gà chuyển gen có khả năng sản xuất protein dược phẩm hoặc nghiên cứu các bệnh lý liên quan đến viêm.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu về sự hội nhập của gen IL-6 trong tế bào gốc phôi gà đã mở ra nhiều cơ hội cho các ứng dụng trong y học và nông nghiệp. Việc phát triển các phương pháp chuyển gen hiệu quả và an toàn sẽ là chìa khóa cho sự thành công trong lĩnh vực này.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu trong y học

Nghiên cứu này có thể góp phần vào việc phát triển các liệu pháp điều trị mới cho các bệnh lý liên quan đến viêm, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

5.2. Hướng đi mới cho nghiên cứu tế bào gốc

Việc ứng dụng gen IL-6 trong tế bào gốc phôi gà có thể mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, từ việc phát triển các giống gà chuyển gen đến việc ứng dụng trong nghiên cứu cơ bản về sinh học tế bào.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 – Tổng quan 1. KỸ THUẬT LAI HUỲNH QUANG TẠI CHỖ (FISH) 1. Nguyên lý Cũng như các kỹ thuật lai acid nucleic khác, kỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (Fluorescence In Situ Hybryzation – FISH) dựa trên đặc tính biến tính và hoàn nguyên của acid nucleic [85]. Trong phản ứng lai, sự tương đồng trình tự giữa đầu dò và ADN đích cho phép chúng kết hợp chính xác với nhau tạo thành phức hệ lai.

Tín hiệu huỳnh quang gắn trên đầu dò được phân tích dưới kính hiển vi huỳnh quang, cho phép phát hiện và xác định vị trí của gen đích trên mẫu nghiên cứu (Hình 3) [94]. Quy trình của kỹ thuật FISH Nguyễn Tiến Lung 12 K20 Sinh học thực nghiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2013 Chương 1 – Tổng quan Mẫu phân tích (máu ngoại vi, tế bào nuôi cấy, tiêu bản cố định mô,.) được biến tính ADN và ủ với đầu dò đánh dấu có trình tự đặc hiệu. ADN cạnh tranh (thường sử dụng ADN tinh trùng cá hồi) và thêm vào hỗn hợp lai nhằm giảm liên kết không đặc hiệu giữa đầu dò và ADN đích. Sau khi lai và rửa nguyên liệu thừa, mẫu được phát hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua kháng thể thứ cấp đặc hiệu gắn huỳnh quang [15, 94].

Đầu dò cho phản ứng lai 1. Đầu dò đánh dấu trực tiếp và gián tiếp Những nghiên cứu đầu tiên về kỹ thuật lai tại chỗ được công bố vào cuối những năm 1960, đều sử dụng đầu dò đánh dấu phóng xạ (32P, 35S, 3H), tuy nhiên các chất phóng xạ có nhiều nhược điểm về độ an toàn, thời gian và chi phí tiến hành. Từ những năm 1980, sau thí nghiệm lai sử dụng đầu dò ADN gắn biotin và kháng thể đánh dấu huỳnh quang của Langer và Safer, các chất đánh dấu huỳnh quang đã dần thay thế các chất phóng xạ. Đầu dò huỳnh quang thể hiện một số ưu điểm nổi bật hơn hẳn so với loại đầu dò phóng xạ: độ bền và độ an toàn cao, ít gây hại với môi trường và con người, kết quả lai thu được chính xác, đánh dấu được với nhiều loại thuốc nhuộm phát xạ tại những bước sóng khác nhau cho phép phát hiện nhiều trình tự đích chỉ với một lần lai.

Đặc biệt, sử dụng chất đánh dấu huỳnh quang thu được tín hiệu ở chính xác vị trí bắt cặp, trong khi các đầu dò phóng xạ có thể chỉ cho phép quan sát được tín hiệu trong ảnh chụp nhiễu xạ cách vị trí bắt cặp một khoảng nhất định. Có hai loại đầu dò huỳnh quang theo phương pháp phát hiện vị trí lai: trực tiếp và gián tiếp [59]. Trong phương pháp gián tiếp, các phân tử đánh dấu (như biotin, digoxigenin – DIG, dinitrophenol) được gắn vào đầu dò, sau đó mẫu lai được phát hiện bằng kháng thể thứ cấp đánh dấu huỳnh quang tương ứng. Hệ thống phổ biến nhất hiện nay sử dụng biotin (Hình 4), được phát triển bởi David Ward và cộng sự từ năm 1981 [44].

Đầu dò gắn biotin sau phản ứng lai được phát hiện bởi nhiều thuốc thử khác nhau, thường sử dụng nhất là streptavidin và avidin do chúng có khả năng liên Nguyễn Tiến Lung 13 K20 Sinh học thực nghiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2013 Chương 1 – Tổng quan kết với biotin tốt nhất (trong đó streptavidin được ưa thích hơn do điểm đẳng điện gần như trung tính giúp giảm liên kết không đặc hiệu [59]. Ngoài hệ thống sử dụng biotin, các đầu dò gắn DIG (Hình 4) cũng thường xuyên được sử dụng. DIG là steroid có nguồn gốc duy nhất từ hoa và lá của một số thực vật chi Digitalis (như D. lanata), do đó kháng thể kháng DIG hầu như không gắn kết với các vật liệu sinh học khác.

Trong lai FISH, các kháng thể kháng DIG có thể được kết hợp với alkaline phosphatase, peroxydase, Rhodamine,… [31]. Phương pháp sử dụng đầu dò gián tiếp có ưu điểm là tạo ra các tín hiệu huỳnh quang cường độ cao, nhưng chúng gặp bất lợi khi cần thêm bước ủ để liên kết phức hệ lai và kháng thể thứ cấp gắn huỳnh quang [59]. Cấu trúc một số chất đánh dấu huỳnh quang thường được sử dụng Đối với phương pháp trực tiếp, các phân tử báo cáo được gắn trực tiếp vào đầu dò và từ đó có thể quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang ngay sau phản ứng lai mà không cần thêm bước ủ kháng thể thứ cấp. Những chất huỳnh quang thường được sử dụng trong trường hợp này là các hợp chất thuộc các nhóm coumarin, fluorescein, rhodamine và cyanine (Bảng 1).

Ưu điểm của phương pháp này là thao tác đơn giản hơn phương pháp gián tiếp, hiện tượng nhiễu nền thấp. Tuy nhiên, tín Nguyễn Tiến Lung 14 K20 Sinh học thực nghiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2013 Chương 1 – Tổng quan hiệu thu được có cường độ yếu hơn. Người ta có thể cái tiến bằng cách sử dụng thêm kháng thể thứ cấp gắn chất phát huỳnh quang mạnh, khi đó nó không khác phương pháp phát hiện gián tiếp như đã trình bày ở trên [59]. Một số chất đánh dấu huỳnh quang và thuốc nhuộm sử dụng trong FISH Huỳnh quang Ex (nm) Em (nm) Các chất đánh dấu 7–Amino–4–methylcoumarin–3–acetic acid, NHS (AMCA) 354 411 7–Diethylaminocoumarin–3–carboxylic acid, NHS 432 472 Pacific Blue™ , NHS 416 451 Fluorescein–5/6–isothiocyanate (FITC) 494 519 Tetramethylrhodamine–5/6–isothiocyanate (TRITC) 544 572 Oregon Green® 488 isothiocyanate 493 520 Rhodamine Green™ carboxylic acid, NHS 504 532 Alexa Fluor® 488 494 519 Alexa Fluor® 568 577 602 Alexa Fluor® 594 590 615 Texas Red® sulfonyl chloride 587 602 Cy3™ 550 570 Cy5™ 649 670 Các thuốc nhuộm ADN 4',6–Diamidino–2–phenylindole (DAPI) 367 452 Propidium iodide (PI) 543 614 Ex: đỉnh hấp thụ; Em: đỉnh phát quang; NHS: N–Hydroxysuccinimidyl Ester Gần đây, người ta có thể sử dụng kết hợp nhiều đầu dò gắn các chất huỳnh quang khác nhau, từ đó thu được nhiều tín hiệu khác nhau trên cùng một mẫu lai.

Phương pháp này được ứng dụng hiệu quả khi phân tích kiểu nhân sinh vật [59]. Nguyễn Tiến Lung 15 K20 Sinh học thực nghiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2013 Chương 1 – Tổng quan 1. Các phương pháp đánh dấu đầu dò Ba phương pháp thông dụng được sử dụng để đánh dấu đầu dò là dịch chuyển điểm đứt (nick translation), kéo dài mồi ngẫu nhiên (random primed) và PCR. Cả ba phương pháp này đều sử dụng hoạt tính enzyme để gắn deoxyribo– nucleotide triphosphate đánh dấu lên phân tử đầu dò.

Phương pháp dịch chuyển điểm đứt Phương pháp dịch chuyển điểm đứt sử dụng đồng thời hoạt tính của hai loại enzyme là ADN polymerase và DNase. Đầu tiên, DNase I tạo ra một điểm đứt trên phân tử ADN làm bộc lộ đầu 3’–OH. Điểm đứt được dịch chuyển dần nhờ hoạt tính 5’ – 3’ exonuclease của enzyme ADN polymerase I. Trong khi đó, enzyme ADN polymerase I bám vào đầu 3’–OH và tổng hợp kéo dài chuỗi nhờ hoạt tính 5’ – 3’ polymerase Klenow của nó.

Trong suốt quá trình tổng hợp, nucleotide đánh dấu được bổ sung vào hỗn hợp phản ứng sẽ thay thế một trong số các phân tử dNTP và được cài nhập vào sợi ADN đang được tổng hợp, kết quả là tạo thành phân tử đầu dò được đánh dấu. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong đánh dấu đầu dò cho FISH, với ưu điểm là tạo ra được đầu dò có kích thước tối ưu bằng cách điều chỉnh nồng độ DNase. Phản ứng đánh dấu thực hiện tối ưu trong 60–90 phút, với kích thước đầu dò khoảng 200–500 bp [21, 22, 59]. Phương pháp tổng hợp kéo dài mồi ngẫu nhiên Phương pháp tổng hợp kéo dài mồi ngẫu nhiên (còn được gọi là đánh dấu oligo) dựa trên phản ứng lai của hexanucleotide với sợi ADN khuôn nhờ hoạt tính kéo dài chuỗi của tiểu đơn vị Klenow thuộc enzyme ADN polymerase I.

Bước đầu tiên của phương pháp là gây biến tính ADN tạo ra sợi đơn, sau đó cho các đoạn hexanucleotide bắt cặp ngẫu nhiên với ADN khuôn, các đoạn này được dùng như mồi cho đoạn Klenow của ADN polymerase I tổng hợp kéo dài ADN, với nguyên liệu là các nucleotide đánh dấu [22, 93]. Đầu dò thu được có kích thước tối ưu trong khoảng 200–1000 bp, với lượng từ 30–70 ng (với 10 ng mẫu ban đầu, ủ trong 1 giờ) đến 2,10–2,65 mg (3 mg mẫu ban đầu, ủ 20 giờ). Nhược điểm lớn của phương pháp Nguyễn Tiến Lung 16 K20 Sinh học thực nghiệm TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học 2013 Chương 1 – Tổng quan này là khó kiểm soát kích thước đầu dò, do đó tín hiệu thu được yếu và thường bị nhiễu. Tuy nhiên, phương pháp này vẫn được lựa chọn với mục đích phát hiện các gen đơn bản trong hệ gen bằng kỹ thuật Southern blot [22, 59, 93].

Phương pháp PCR Các deoxynucleotide gắn huỳnh quang có thể được enzyme ADN Taq polymerase sử dụng như một cơ chất phản ứng trong PCR, tạo ra các phân tử ADN được đánh dấu. Phương pháp này vừa có độ đặc hiệu, độ nhạy cao hơn các phương pháp đánh dấu khác, vừa cho phép tạo ra đầu dò với hiệu suất lớn (lên tới một triệu bản sao sau 20 chu kỳ phản ứng). Hơn nữa, với phương pháp PCR, người sử dụng có thể kiểm soát kích thước đầu dò thông qua vị trí đầu 5’ của cặp mồi dùng trong phản ứng, nhờ đó tạo ra đầu dò có kích thước tối ưu phù hợp với mục đích thí nghiệm (thông thường kích thước đầu dò tổng hợp theo phương pháp này khoảng 200–600 bp) [19, 59]. Các loại đầu dò Một số loại đầu dò thường sử dụng là đầu dò đặc hiệu locus, đầu dò trình tự lặp lại và đầu dò toàn bộ nhiễm sắc thể.

Đầu dò đặc hiệu locus được tạo ra từ một phần của gen và được sử dụng để phát hiện một vùng nhất định trên nhiễm sắc thể. Vị trí của gen đích trên nhiễm sắc thể được xác định thông qua phản ứng lai của nhiễm sắc thể với đầu dò [23]. Kích thước đầu dò thay đổi thùy theo tính chất của vector nhân bản, từ plasmid (1 – 10 kb) cho đến PAC, BAC, YAC (80 kb – 1 Mb). Đầu dò này đặc biệt hiệu quả cho việc phát hiện các tái cấu trúc nhiễm sắc thể như chuyển đoạn, đảo đoạn hay mất đoạn.

Sử dụng các đầu dò cho các vị trí khác nhau với các màu huỳnh quang khác nhau, người ta dễ dàng phát hiện các hiện tượng bất thường này [26, 37]. Đầu dò trình tự lặp lại trên nhiễm sắc thể được tạo thành từ các trình tự lặp lại ở tâm động hoặc đầu mút.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ