Phần mở đầu. 3-Phần phân tích. 4-Phần kết luận và kiến nghị chính sách Ghi chú : (1),(3),(4),(5) : Tác giả tính toán từ bảng tổng hợp kết quả KTSTQ giai đoạn 2003-2009, Phụ lục 2. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ 2.
Kết quả hoạt động KTSTQ đạt được qua các năm từ khi chính thức đi vào hoạt động 2003 đến nay. Hiện trạng kết quả đạt được của hoạt động KTSTQ giai đoạn 2003-2009: Trong tiến trình cải cách hiện đại hóa ngành Hải quan Việt Nam, KTSTQ đã chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm 2003 theo các quyết định của BTC số 16 và số 37 về việc thành lập đơn vị nghiệp vụ KTSTQ thuộc TCHQ (Cục KTSTQ) và các Cục Hải quan địa phương (cấp Phòng KTSTQ). Một trong những chức năng chính của KTSTQ được xác định là công cụ hữu hiệu chống gian lận thương mại, bảo vệ nguồn thu và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho mọi doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu. Tuy là lực lượng mới thành lập, nhưng kết quả hoạt động KTSTQ thời gian qua đã khá ấn tượng về số thu, phát huy tối đa khả năng thực thi nhiệm vụ bảo vệ nguồn thu qua các năm như sau: Bảng 2.Kết quả hoạt động KTSTQ từ 2002-2009 (ĐVT: Tỷ đồng) 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Số vụ tại trụ sở HQ K K K 364 484 591 682 636 Số QĐ ban hành KT tại DN 6 25 20 11 29 37 41 34 Số tiền phải truy thu 25 19.9 309 Số tiền đã truy thu 0.2 243 (K : không có số liệu) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Kết quả hoạt động KTS TQ 2002-2009 Số tiền thuế phải truy thu Tỷ đồng 350 Số tiền đã truy thu 300 250 200 150 100 50 0 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Năm (Nguồn: Tác giả tính toán từ các báo cáo ngành Hải quan năm 2003-2009 - Tổng cục Hải quan)[26] Qua kết quả truy thu thuế của lực lượng KTSTQ, cho thấy đường xu hướng kết quả hoạt động KTSTQ của ngành Hải quan đang từng bước đạt mức hiệu quả cao qua từng năm, thể hiện sự phát huy tác dụng tích cực từ việc mở rộng quyền hạn cũng như phạm vi hoạt động của hoạt động KTSTQ thông qua Luật Hải quan bổ sung sửa đổi có hiệu lực vào năm 2006 (phân tích phần sau).
Xét về tổng số vụ KTSTQ được ngành Hải quan thực hiện thời gian qua, cho thấy số lượng tăng bình quân là 17%/năm tính từ năm 2005 với 375 vụ KTSTQ đến 2009 là 670 vụ, trong đó số vụ tiến hành tại trụ sở cơ quan Hải quan tăng bình quân 16%/năm và số vụ KTS tại trụ sở doanh nghiệp tăng bình quân 62%/năm tính từ năm 2005 đến nay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 S ố vụ KTS TQ hằng năm T ổng số vụ KT ST Q Số vụ tại trụ sở HQ 800 723 Số vụ KT tại DN 682 670 700 628 636 591 600 513 484 500 375 Số vụ 364 400 300 200 100 59 37 41 25 25 3920 11 29 34 0 0 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Năm (Nguồn : Tác giả tính toán dựa trên báo cáo tổng kết từ năm 2003 đến 2009- Tổng cục Hải quan)[26] Quan sát kết quả KTSTQ thời gian qua, có thể thấy một điểm nổi bật đối với hoạt động KTSTQ là phần lớn công việc được Hải quan tiến hành tại trụ sở cơ quan Hải quan. Thể hiện quan điểm ưu tiên kiểm tra hồ sơ tại cơ quan Hải quan và ưu tiên cho việc giải trình chứng minh của doanh nghiệp theo yêu cầu của cơ quan Hải quan. Trường hợp không giải trình hoặc giải trình không đáp ứng yêu cầu cơ quan Hải quan, thì Hải quan sẽ tiến hành xác minh và kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp.
Điều này đã giải thích tại sao số lượng vụ KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp lại rất hạn chế - bình quân chỉ vài chục doanh nghiệp/năm bị KTSTQ tại trụ sở kinh doanh. Phân tích kết quả của hoạt động KTSTQ giai đoạn 2003 -2009 : - Xét về phương diện bổ sung nguồn thu ngân sách thì kết quả hoạt động KTSTQ thời gian qua đã cho thấy số tiền phải truy thu về cho ngân sách chiếm tỷ lệ rất thấp khoảng 0,14% của tổng số thu ngân sách mỗi năm của Hải quan và chưa ổn định. Trong khi đó lượng nhân viên hoạt động trong lĩnh vực KTSTQ chiếm tỷ lệ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 bình quân là 5% trên tổng biên chế ngành Hải quan (Phụ lục 2) và theo quy định nội bộ Hải quan hiện nay thì tỷ lệ này phải là 10%. Nếu so với hoạt động Hải quan hiện đại thì kết quả trên chưa chứng tỏ tính hiệu quả của hoạt động KTSTQ tại Việt Nam về phương diện số thu và khai thác hết năng suất hoạt động của lực lượng kiểm toán viên Hải quan.
Tại Nhật bản, hoạt động KTSTQ đã được hình thành từ năm 1968, ngày nay lực lượng KTSTQ là một trong những lực lượng bảo vệ nguồn thu ngân sách hiệu quả của họ, với số lượng kiểm toán viên Hải quan chiếm khoảng 5% toàn lực lượng (lực lượng KTSTQ Hải quan Nhật bản khoảng 360 người - Nguồn : Báo Hải quan số 116- ngày 02/10/2006) họ đã đạt kết quả truy thu thuế rất ổn định trung bình hàng năm trên 0,2% tổng số thuế Hải quan.3 -Hải quan Nhật Biểu đồ 2.4-Hải quan Việt Nam Tỷ lệ truy thu hằng năm/Tổng thu HQ Nhật Tỷ lệ số phải truy thu/Tổng thu HQ % % 0.00% 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Năm 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Năm (Nguồn:Tác giả tính toán dựa trên báo cáo tổng kết từ năm 2003 đến 2009- Tổng cục Hải quan, www.jp/zeikan/pamphlet/report2009e/index.htm, tài liệu giảng dạy KTSTQ của Hải quan Nhật từ 2002-2007)[22,23,26,42] -Xét về số lượng doanh nghiệp được Hải quan tiến hành KTSTQ hàng năm tại Việt Nam thì tỷ lệ đạt được vẫn còn thấp chỉ vào khoảng 2% trên tổng số doanh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 nghiệp có hoạt động XNK thường xuyên (biểu đồ 2. Với lượng nhân viên tương đương, hàng năm Hải quan Nhật bản thực hiện hàng ngàn vụ KTSTQ, chiếm tỷ lệ hơn 11% tổng số doanh nghiệp được quản lý (năm 2003 : số nhà nhập khẩu bị kiểm toán Hải quan là 5.088 trong tổng số 44.591 doanh nghiệp được quản lý - đạt tỷ lệ là 11,4%. Năm 2004 : số nhà nhập khẩu bị kiểm toán Hải quan là 5.223 trong tổng số 45.048 doanh nghiệp được quản lý - đạt tỷ lệ là 11,6%. Nguồn : Tài liệu giảng dạy KTSTQ của Hải quan Nhật từ 2002-2007).5 Tỷ lệ KTSTQ/Lượng DN hằng năm % T ỷ lệ DN bị KT tại trụ sở 2.5% T ỷ lệ DN bị KT /Lượng DN 2.0% 2006 2007 2008 2009 Năm (Nguồn:Tác giả tính toán dựa trên báo cáo tổng kết từ năm 2003 đến 2009 - Tổng cục Hải quan)[26] -Xét về yếu tố hỗ trợ cho khâu thông quan “tiền kiểm” trong việc góp phần đánh giá tính tuân thủ của doanh nghiệp thông qua hoạt động KTSTQ, tỷ lệ doanh nghiệp được KTSTQ chỉ khoảng 2% mỗi năm như hiện nay đã chưa phản ánh sự kết nối thật sự giữa khâu “hậu kiểm” và khâu “tiền kiểm”.
Điều này cho thấy để đánh giá tính tuân thủ của doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại khâu thông quan “tiền kiểm”, cơ quan Hải quan không thể dựa hoàn toàn vào kết quả của hoạt động KTSTQ vì phần lớn doanh nghiệp (98%) chưa được kiểm tra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 - Xét về yếu tố thông tin đánh giá tính tuân thủ của doanh nghiệp phục vụ cho nghiệp vụ quản lý rủi ro, kết quả KTSTQ hiện nay cũng chưa thật sự hỗ trợ cho việc vẽ ra “bức tranh toàn diện” về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp XNK thời gian qua. Điều này được minh chứng cụ thể như sau: + Đối với hoạt động KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan thì việc doanh nghiệp giải trình những nghi vấn của Hải quan về những điểm chưa rõ trong hồ sơ thông quan hàng hóa, chưa cho thấy hết “bức tranh toàn diện” về hoạt động kinh doanh của họ, giải trình của doanh nghiệp chỉ giải toả những nghi vấn do Hải quan nhận biết được trong hồ sơ lưu tại cơ quan Hải quan. Ví dụ : Trường hợp nhà nhập khẩu mua bảo hiểm (I) riêng lẽ cho hàng hóa nhập khẩu theo điều kiện CFR và khai báo Hải quan theo giá CFR như trong hợp đồng thanh toán cho bên bán.
Trong toàn bộ hồ sơ Hải quan lúc bấy giờ nhân viên Hải quan sẽ hoàn toàn không thấy xuất hiện yếu tố “tiền bảo hiểm hàng hóa-I”, vì vậy khi tiến hành KTSTQ tại trụ sở cơ quan Hải quan sẽ không phát hiện yếu tố này. Phí bảo hiểm (I) trong trường hợp này chỉ bị phát hiện khi kiểm toán viên Hải quan trực tiếp kiểm tra trên sổ sách kế toán tại doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Tương tự, sẽ rất nhiều trường hợp các loại chi phí phải được đưa vào khai báo trị giá Hải quan để tính thuế, nhưng được doanh nghiệp bỏ qua khi khai báo Hải quan và cũng không hề có bất kỳ dấu hiệu gì trên hồ sơ của họ để Hải quan phát hiện. Từ đó, có thể thấy phần lớn các vụ KTSTQ được tiến hành tại trụ sở cơ quan như hiện nay (từ 94% đến 97% trên tổng số vụ KTSTQ) sẽ không phát hiện hết các gian lận của doanh nghiệp mặc dù có truy thu thuế và cũng chưa thật sự mang lại công bằng cho cộng đồng doanh nghiệp.
+Đối với hoạt động KTSTQ tại trụ sở doanh nghiệp: theo quy định của Luật Hải quan (Đoạn 4, Điều 32, Luật Hải quan sửa đổi bổ sung 2005), mọi hoạt động kinh doanh có liên quan quá trình XNK hàng hóa sẽ hiện rõ trong quá trình kiểm tra sổ sách kế toán. “Bức tranh toàn diện” về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được cơ quan Hải quan phác họa khá rõ nét và việc đánh giá mức độ tuân thủ của doanh nghiệp trong thông quan hàng hóa là tương đối chính xác (ngoại trừ những rủi ro khách quan). Đây chính là hoạt động hiệu quả nhất mà KTSTQ có thể thực hiện để trợ giúp khâu “tiền kiểm” trong hoạt động tạo thuận lợi thương mại và đáp ứng tiêu chí công bằng cho cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, số lượng KTSTQ được tiến hành tại trụ sở doanh nghiệp hiện nay chiếm tỷ lệ rất thấp chỉ khoảng từ 3% đến 6% trong tổng số vụ KTSTQ diễn ra hàng năm, tương đương với việc Hải quan chỉ “phác hoạ” được khoảng vài chục “bức tranh kinh doanh” của doanh nghiệp.