Chương 1 2 SV: Lê Tất Tuấn Lớp: CQ48/22.04 Luận Văn tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Thịnh Văn Vinh LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. KHÁI QUÁT VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về tài sản cố định Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần thiết phải có đầy đủ các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất bao gồm: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động.
TSCĐ là một bộ phận chủ yếu của tư liệu lao động, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Song không phải tất cả tư liệu lao động tại đơn vị đều là TSCĐ mà TSCĐ chỉ bao gồm những tư liệu lao động chủ yếu thỏa mãn các quy định về mặt giá trị và thời gian sử dụng được quy định trong chế độ quản lý tài chính hiện hành. Khái niệm TSCĐ: TSCĐ trong doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giá trị của nó được chuyển dịch dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong chu kỳ sản xuất. TSCĐ bao gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình, TSCĐ thuê tài chính và bất động sản đầu tư.
Theo Thông tư 45/2013/TT - BTC ban hành ngày 25/04/2013 của Bộ tài chính: - Tài sản cố định hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. - Tài sản cố định vô hình: là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng 3 SV: Lê Tất Tuấn Lớp: CQ48/22.04 Luận Văn tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Thịnh Văn Vinh sáng chế, bản quyền tác giả. - Tài sản cố định thuê tài chính: là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của Công ty cho thuê tài chính.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Mọi TSCĐ đi thuê nếu không thoả mãn các quy định nêu trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động. Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ Các tài sản được ghi nhận là tài sản cố định hữu hình phải thỏa mãn đồng thời bốn điều kiện sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; - Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách đáng tin cậy; - Thời gian sử dụng ước tính trên một năm; - Có giá trị từ 30.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên.
Vai trò của TSCĐ trong doanh nghiệp và các thông tin về TSCĐ trong BCTC 1.Vai trò của TSCĐ trong DN Đặc điểm chủ yếu và cơ bản của TSCĐ chi phối đến công tác kiểm toán là TSCĐ thường có giá trị lớn, quá trình mua sắm và trang bị TSCĐ trong các doanh nghiệp thường không nhiều và diễn ra không đều đặn. TSCĐ thường có thời gian sử dụng lâu dài, thời gian quản lý các tài sản này trong các doanh nghiêp thường lớn. Trong quá trình sử dụng, doanh nghiệp phải trích khấu hao các tài sản này. Việc áp dụng một chính sách khấu hao hợp lý ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ trung thực và hợp lý của các thông tin liên quan đến TSCĐ trên các BCTC.
Mặt khác, trong quá trình sử dụng TSCĐ có thể được nâng cấp 4 SV: Lê Tất Tuấn Lớp: CQ48/22.04 Luận Văn tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Thịnh Văn Vinh và sửa chữa, điều đó cũng có thể ảnh hưởng đến các thông tin liên quan đến TSCĐ trên các BCTC. TSCĐ là một trong các bộ phận tài sản thiết yếu của doanh nghiệp, là một trong các bộ phận tư liệu sản xuất không thể thiếu của doanh nghiệp. Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình cũng đều cần có TSCĐ.
Như vậy, có thể nói TSCĐ đóng một vai trò vô cùng quan trọng không thể thiếu trong doanh nghiệp.Các thông tin của tài sản cố định trong BCTC Trong BCTC của doanh nghiệp có rất nhiều thông tin liên quan đến TSCĐ bao gồm: các thông tin về nguyên giá, giá trị hao mòn, các khoản chi phí có liên quan đến TSCĐ như: chi phí khấu hao trong chi phí sản xuất kinh doanh từ đó tác động đến các chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí và kết quả kinh doanh được tổng hợp và trình bày trong các BCTC hàng năm của đơn vị. - Nguyên giá: là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng. - Khấu hao: là sự phân bổ có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó. - Giá trị phải khấu hao: là nguyên giá của TSCĐ ghi trên BCTC, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó.
- Giá trị thanh lý: là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó sau khi trừ chi phí thanh lý ước tính. - Giá trị còn lại: là nguyên giá TSCĐ sau khi trừ số khấu hao lũy kế của tài sản đó.KHÁI QUÁT VỀ KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.Tính tất yếu khách quan của kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính Tài sản cố định (TSCĐ) là một bộ phận quan trọng, không thể thiếu để duy trì sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp. TSCĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, bao gồm những khoản mục có 5 SV: Lê Tất Tuấn Lớp: CQ48/22.04 Luận Văn tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Thịnh Văn Vinh giá trị lớn, có mối quan hệ chặt chẽ và có ảnh hưởng đáng kể đến các khoản mục khác trên báo cáo tài chính.
Một sai sót trong hạch toán khoản mục này đôi khi sẽ gây ảnh hưởng trọng yếu đến tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính. Do vậy, khoản mục TSCĐ có ý nghĩa và ảnh hưởng rất lớn đến cả phía KTV và phía khách hàng. Đồng thời, kiểm toán TSCĐ sẽ phát hiện ra các sai sót và gian lận trong việc xác định chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí khấu hao TSCĐ. Các gian lận và sai sót liên quan tới TSCĐ thường phức tạp và gây ra những ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC vì kiểm toán TSCĐ có quan hệ mật thiết với các chu trình kiểm toán khác.
Khi kiểm toán TSCĐ nhận thấy rằng TSCĐ có thể liên quan trực tiếp đến các phần hành kiểm toán khác như: khoản mục tiền, khoản mục phải trả người bán, khoản mục chi phí…. Kiểm toán TSCĐ giúp doanh nghiệp không chỉ phát hiện ra các sai sót mà còn giúp doanh nghiệp hoàn thiện được hệ thống kế toán, giúp doanh nghiệp hiểu rõ và tuân thủ đúng các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán.Mục tiêu kiểm toán tài sản cố định Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200: “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành ( hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?”. Mục tiêu của kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị. Phù hợp với mục đích chung của kiểm toán BCTC là xác nhận về mức độ tin cậy của BCTC được kiểm toán; Mục tiêu cụ thể của kiểm toán TSCĐ là thu thập đầy đủ các bằng chứng thích hợp từ đó đưa ra ý lời xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tin tài chính có liên quan đến TSCĐ.
Đồng thời cũng cung cấp 6 SV: Lê Tất Tuấn Lớp: CQ48/22.04 Luận Văn tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Thịnh Văn Vinh những thông tin, tài liệu có liên quan làm cơ sở tham chiếu khi kiểm toán các chu kỳ có liên quan khác. Trên cơ sở mục đích kiểm toán TSCĐ như trên ta có thể xác định mục tiêu kiểm toán cụ thể đối với các nghiệp vụ về TSCĐ và đối với số dư các tài khoản TSCĐ.Mục tiêu kiểm toán đối với các nghiệp vụ về tài sản cố định - Sự phát sinh: Tất cả các nghiệp vụ TSCĐ được ghi sổ trong kỳ là phát sinh thực tế, không có các nghiệp vụ ghi khống; - Tính toán, đánh giá: Đảm bảo các nghiệp vụ TSCĐ được xác định theo đúng các nguyên tắc và chế độ kế toán hiện hành và được tính đúng đắn không sai sót; - Đầy đủ: Các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kỳ đều được phản ánh và theo dõi đầy đủ trên các sổ kế toán; - Đúng đắn: Các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kỳ đều được phân loại đúng đắn theo quy định của của các Chuẩn mực, chế độ kế toán liên quan và quy định đặc thù của doanh nghiệp; Các nghiệp vụ này được hạch toán đúng trình tự và phương pháp kế toán. - Đúng kỳ: Các nghiệp vụ TSCĐ đều được hạch toán đúng kỳ phát sinh theo nguyên tắc kế toán dồn tích….Mục tiêu kiểm toán đối với số dư các tài khoản TSCĐ - Sự hiện hữu: Tất cả TSCĐ được doanh nghiệp trình bày trên BCTC là tồn tại thực tế tại thời điểm báo cáo.