CHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về thử nghiệm cơ bản trong kiểm toán doanh thu tại các doanh nghiệp 1. Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán VSA Việt Nam số 14, điều 03: “Doanh thu và thu nhập khác” trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Theo điều 04: “Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.
Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu (Ví dụ: Khi người nhận đại lý thu hộ tiền bán hàng cho đơn vị chủ hàng, thì doanh thu của người nhận đại lý chỉ là tiền hoa hồng được hưởng). Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ sở hữu nhưng không là doanh thu. Điều kiện ghi nhận doanh thu Theo Chuẩn mực kế toán VSA số 14 - Doanh thu và thu nhập khác: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện sau: (a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua; (b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa; (c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; (d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; (e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Lê Ngọc Mỹ Hằng Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể. Trong hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng hóa cho người mua. Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi nhận. Doanh thu của giao dịch về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy.
Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán của kỳ đó. Kết quả của giao dịch cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn tất cả bốn (4) điều kiện sau: (a) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; (b) Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; (c) Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối kế toán; (d) Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó. Trường hợp giao dịch về cung cấp dịch vụ thực hiện trong nhiều kỳ kế toán thì việc xác định doanh thu của dịch vụ trong từng kỳ thường được thực hiện theo phương pháp tỷ lệ hoàn thành. Theo phương pháp này, doanh thu được ghi nhận trong kỳ kế toán được xác định theo tỷ lệ phần công việc đã hoàn thành.
Cách xác định doanh thu ở doanh nghiệp Theo Chuẩn mực kế toán Việt Nam VSA số 14 - Doanh thu và thu nhập khác, việc xác định doanh thu phải tuân theo các quy định sau: - Doanh thu được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được. - Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thỏa thuận giữa doanh nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại. SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Lê Ngọc Mỹ Hằng - Đối với các khoản tiền hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu được trong tương lai. - Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu. Khi hàng hóa hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hóa hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là một giao dịch tạo ra doanh thu.
Trường hợp này doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khoản mục doanh thu tại các doanh nghiệp với vấn đề kiểm toán 1. Mục tiêu kiểm toán Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA số 200 “Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán BCTC”, đoạn 11 xác định: Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không? Mục tiêu của kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.
Đối với từng khoản mục kiểm toán cụ thể trên BCTC, các KTV thiết lập các mục tiêu kiểm toán rõ ràng nhằm làm cơ sở cho việc xác định phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán, phân tích và đánh giá khi thực hiện kiểm toán. Các mục tiêu kiểm toán doanh thu được xây dựng dựa trên các cơ sở dẫn liệu sau: tính hiện hữu, tính đầy đủ, quyền và nghĩa vụ, tính chính xác, trình bày và khai báo, đánh giá, đúng kỳ. SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Lê Ngọc Mỹ Hằng Bảng 1.1 : Mục tiêu kiểm toán doanh thu Cơ sở dẫn Mục tiêu kiểm toán liệu Tính hiện Doanh thu được ghi nhận là thực sự đã phát sinh và đủ tiêu chuẩn ghi hữu nhận doanh thu.
Hàng hóa được ghi sổ thực tế và đã chuyển giao cho khách hàng, không tồn tại các khoản doanh thu ghi nhận mà khách hàng không tồn tại hoặc có tồn tại nhưng chưa chấp nhận thanh toán. Các khoản điều chỉnh doanh thu (chiết khấu, giảm giá, hàng bán bị trả lại, dự phòng phải thu khó đòi) đã ghi sổ thực tế và được xét duyệt đúng đắn. Tính đầy đủ Tất cả các nghiệp vụ bán hàng và ghi nhận doanh thu đều đã được ghi sổ, không bỏ sót bất kỳ một khoản doanh thu nào khi đã thỏa mãn các tiêu chuẩn ghi nhận doanh thu. Quyền và Hàng hóa đã bán thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp không phải là nghĩa vụ hàng hóa ký gửi đại lý, tài sản nhận hộ, giữ hộ.
Đồng thời doanh thu ghi nhận cũng phải thuộc sở hữu của doanh nghiệp tương ứng với trách nhiệm vật chất mà doanh nghiệp phải thực hiện với khách hàng. Tính chính Doanh thu được tính toán và ghi sổ chính xác giá trị trên các chứng từ, xác ghi chép đúng tài khoản. Doanh thu, giảm giá, chiết khấu thương mại, hàng bán bị trả lại đều được tính toán chính xác dựa trên số lượng và đơn giá cụ thể của từng nghiệp vụ bán hàng. Dự phòng phải thu khó đòi là số ước tính đúng đắn về số chênh lệch giữa tổng số tiền phải thu và số tiền thực tế thu được.
Đồng thời số liệu doanh thu phải thống nhất giữa sổ chi tiết và sổ cái. Trình bày Doanh thu được xác định, phân loại và trình bày đúng đắn trên và khai báo BCKQKD và khai báo đầy đủ trên thuyết minh BCTC. Đánh giá Doanh thu được đánh giá đúng về mặt giá trị Đúng kỳ Doanh thu được ghi nhận đúng thời điểm phát sinh, đúng niên độ kế toán, phù hợp với giá vốn trong kỳ. SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Lê Ngọc Mỹ Hằng 1. Ý nghĩa Doanh thu là một chỉ tiêu đặc biệt trên BCKQKD. Nó có ảnh hưởng trực tiếp cũng như có tác động qua lại với các chỉ tiêu khác và các báo cáo khác, đặc biệt là BCĐKT, là cơ sở để tính toán một số chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính. Từ các chỉ tiêu này, nhà quản lý nắm bắt được tình hình sức khỏe của doanh nghiệp để đưa ra các quyết định cho doanh nghiệp.
Sở dĩ doanh thu có vai trò và ý nghĩa quan trọng như vậy là bởi các nguyên nhân sau: Thứ nhất, ngoại trừ các tổ chức phi lợi nhuận, tổ chức từ thiện, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đều nhằm hướng tới mục tiêu doanh thu và lợi nhuận. Do đó, chỉ tiêu này thường chiếm tỷ trọng khá lớn trên BCTC cũng như chứa đựng vai trò quan trọng đối với người theo dõi BCTC. Đồng thời, cũng như các chỉ tiêu khác trên BCTC, khoản mục này có thể có các sai sót trọng yếu do sự yếu kém của bộ máy kế toán. Thứ hai, Doanh thu là chỉ tiêu có quan hệ mật thiết với các hoạt động tài chính của doanh nghiệp như chu trình bán hàng – thu tiền.
Nó có liên quan chặt chẽ đến các chỉ tiêu quan trọng trên BCĐKT và BCKQKD. Ví dụ: “Doanh thu thuần” ảnh hưởng đến chỉ tiêu “Lợi nhuận chưa phân phối trên BCKQKD” và từ đó cũng ảnh hưởng đến chỉ tiêu “Thuế và các nghĩa vụ đối với Nhà nước” trên BCĐKT.