CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG VÀ KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN DỰ PHÒNG TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái niệm, phân loại và đặc điểm các khoản dự phòng Nhằm giúp cho DN có nguồn tài chính đủ bù đắp các khoản tổn thất có thể xảy ra trong năm kế hoạch hay để đảm bảo nguồn vốn kinh doanh, kế toán có thể sử dụng việc trích lập các khoản dự phòng. Các khoản dự phòng bao gồm: dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư trong hoạt động tài chính (ngắn hạn, dài hạn), dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho (HTK). Khái niệm các khoản dự phòng Các khoản dự phòng kế toán về bản chất chính là các khoản ước tính kế toán.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 540 – Kiểm toán các ước tính kế toán: “Ước tính kế toán là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến BCTC được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập BCTC.” Các khoản dự phòng là các khoản ước tính thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc phương pháp tính toán chính xác. DN dựa vào những xét đoán chủ quan của mình và các quy định của chế độ kế toán hiện hành để lập nên nhằm mục đích đảm bảo nguyên tắc thận trọng trong kế toán. Theo chuẩn mực kế toán số 18 định nghĩa: “Một khoản dự phòng là khoản nợ phải trả không chắc chắn về giá trị hoặc thời gian.” Tất cả các khoản dự phòng đều là nợ tiềm tàng vì chúng không được xác định gần như chắc chắn về giá trị và thời gian. Các khoản dự phòng là các khoản đã được ghi nhận là các khoản nợ phải trả (giả định đưa ra một ước tính đáng tin cậy) vì nó là các nghĩa vụ về nợ phải trả hiện tại và chắc chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ về khoản nợ phải trả đó.
SVTH: Nguyễn Thị Mai Trâm 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền 1. Phân loại các khoản dự phòng Theo khoản 1.1, điều 45, Thông tư 200/2014/TT – BTC, các khoản dự phòng thường gặp gồm có: - Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh: Là dự phòng phần giá trị bị tổn thất có thể xảy ra do giảm giá các loại chứng khoán DN đang nắm giữ vì mục đích kinh doanh. - Dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác: Là khoản dự phòng tổn thất do DN nhận vốn góp đầu tư (công ty con, liên doanh, liên kết) bị lỗ dẫn đến nhà đầu tư có khả năng mất vốn hoặc khoản dự phòng do suy giảm giá trị các khoản đầu tư vào công ty con, công ty liên doanh, liên kết.
- Dự phòng phải thu khó đòi: Là khoản dự phòng phần giá trị các khoản nợ phải thu và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn khác có bản chất tương tự các khoản phải thu khó có khả năng thu hồi. - Dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Là khoản dự phòng giảm giá HTK khi có sự suy giảm của giá trị thuần có thể thực hiện được so với giá gốc của HTK. Việc trích lập và sử dụng các khoản dự phòng tại mỗi DN đều phải tuân theo quy định chung của Nhà nước cũng như của Bộ Tài chính. Do vậy tìm hiểu về các khoản dự phòng cần có hiểu biết về đặc điểm, cách sử dụng và trích lập các khoản này.
Đặc điểm các khoản dự phòng Các khoản dự phòng, về bản chất là một bộ phận của các ước tính kế toán, vì vậy mang những tính chất cơ bản của các khoản ước tính tế toán. Thứ nhất, các khoản dự phòng là các khoản ước tính phức tạp, đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn, nhiều kinh nghiệm và khả năng xét đoán cao. Để lập các khoản dự phòng, đòi hỏi phải phân tích dữ liệu hiện tại và cả những dự đoán trong tương lai. Chẳng hạn, ước tính nợ phải thu khó đòi cần căn cứ vào tình hình tài chính hiện tại của khách nợ, dự đoán tình hình tài chính của DN đó; ước tính dự phòng giảm giá HTK phải phân tích dữ liệu hiện tại và dự tính bán hàng trong tương lai; ước tính các khoản tổn thất tài chính cũng đòi hỏi DN phải có khả năng dự đoán những biến động trên thị trường tài chính.
SVTH: Nguyễn Thị Mai Trâm 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền Thứ hai, các khoản dự phòng đóng vai trò quan trọng trong việc lập BCTC, mặc dù các khoản này mang tính chất chủ quan và nguy cơ bị phản ánh sai lệch khá lớn. Nguyên nhân của việc những xét đoán chủ quan vẫn được sử dụng rộng rãi trong lập BCTC có thể giải thích bởi lẽ không có một chế độ kế toán chi tiết để áp dụng cho toàn bộ mọi DN. Đối với các khoản dự phòng, tùy thuộc vào hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính cũng như những biến động trên thị trường mới có thể đưa ra những thông tin chính xác trên BCTC.
Vì vậy, việc xây dựng một chế độ chi tiết, cụ thể cho mỗi DN là không khả thi về mặt kinh tế, kĩ thuật. Nếu có thể xây dựng được thì việc áp dụng cũng gặp nhiều khó khăn, cản trở quá trình ra quyết định của nhà quản lý. Việc lập các khoản dự phòng tuy mang nặng tính xét đoán chủ quan song đó cũng là một biện pháp giúp các DN linh hoạt hơn trong điều hành, quản lý. Thứ ba, nếu các khoản dự phòng trên BCTC không được lập thì không thể đảm bảo nguyên tắc thận trọng trong kế toán.
Ví dụ, HTK của đơn vị khi ghi nhận thì được ghi nhận theo giá gốc. Tuy nhiên đến cuối kỳ, nếu giá thị trường của HTK giảm xuống thấp hơn giá gốc mà không lập dự phòng giảm giá HTK thì không thể đảm bảo nguyên tắc thận trọng. Trong trường hợp này, giá trị HTK giảm xuống làm giảm tài sản của DN, phải được phản ánh. Vì vậy, HTK phải được ghi nhận bằng giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được.
Tương tự như vậy với dự phòng phải thu khó đòi. Khi DN lập dự phòng phải thu khó đòi đối với các khoản nợ quá hạn và các khoản nợ không có khả năng thu hồi, thì khi các đối tượng không còn khả năng trả nợ, tổn thất do không thu hồi được các khoản nợ này đã được DN tính một phần vào chi phí của năm trước, tương ứng với doanh thu. Thứ tư, các khoản dự phòng được lập vào cuối mỗi kỳ kế toán và phần lớn dựa vào kinh nghiệm chủ quan của các nhà quản lý. Nhà quản lý phải thường xuyên xem xét lại các ước tính, so sánh kết quả thực tế với số liệu đã ước tính để điều chỉnh các ước tính khi cần thiết.
Trong một số trường hợp, các khoản dự phòng thường là công cụ để các DN che giấu chi phí, thổi phồng lợi nhuận hoặc nâng cao chi phí nhằm gian lận thuế. Vì vậy, việc trích lập các khoản dự phòng thường mang tính tin cậy không cao nên được đánh giá là có tính rủi ro cao trong kiểm toán. SVTH: Nguyễn Thị Mai Trâm 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền 1.
Các quy định kế toán liên quan đến các khoản dự phòng 1. Dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh 1. Đối tượng và điều kiện lập dự phòng: Điểm (a), khoản 1, điều 5, Thông tư 228/2009/TT-BTC quy định đối tượng lập dự phòng là các chứng khoán do DN đầu tư bị giảm giá và đảm bảo các điều kiện sau: - Là chứng khoán của DN được DN đầu tư theo đúng quy định của pháp luật. - Được tự do mua bán trên thị trường mà tại thời điểm kiểm kê, lập BCTC có giá trị thị trường giảm so với giá đang hạch toán trên sổ sách.
- Những chứng khoán không được phép mua bán tự do trên thị trường thì không được lập dự phòng giảm giá. Phương pháp lập dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh DN lập dự phòng cho các loại chứng khoán bị giảm giá, có biến động giảm giá tại thời điểm lập BCTC năm của năm báo cáo và được tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư làm căn cứ hạch toán vào chi phí hoạt động tài chính của DN. Điểm (b), khoản 1, điều 5, Thông tư 228/2009/TT-BTC quy định mức trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán được tính theo công thức sau: Số lượng chứng khoán Giá chứng Mức dự phòng Giá chứng bị giảm giá tại thời khoán hạch giảm giá đầu tư = x - khoán thực tế điểm lập báo cáo tài toán trên sổ kế chứng khoán trên thị trường chính toán - Đối với chứng khoán đã niêm yết: giá chứng khoán thực tế trên thị trường được tính theo giá thực tế trên các Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) là giá giao dịch bình quân tại ngày trích lập dự phòng; Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) là giá đóng cửa tại ngày trích lập dự phòng. - Đối với các loại chứng khoán chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán, giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định như sau: SVTH: Nguyễn Thị Mai Trâm 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Nguyễn Thị Thanh Huyền + Đối với các Công ty đã đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết (UPCom) thì giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá giao dịch bình quân trên hệ thống tại ngày lập dự phòng. + Đối với các Công ty chưa đăng ký giao dịch ở thị trường giao dịch của các công ty đại chúng thì giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá trung bình trên cơ sở giá giao dịch được cung cấp tối thiểu bởi ba (03) công ty chứng khoán tại thời điểm lập dự phòng. Trường hợp không thể xác định được giá trị thị trường của chứng khoán thì các DN không được trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán. - Đối với những chứng khoán niêm yết bị hủy giao dịch, ngừng giao dịch kể từ ngày giao dịch thứ sáu trở đi là giá trị sổ sách tại ngày lập bảng cân đối kế toán (BCĐKT) gần nhất.