CHINH VINEN TAI— GIA MINH BACH, BEN VUNG! Tine 9/2013 / BD f ‘a. W ; i ` x \ Fe / i‘ y | Ị ¥ l ie ï ‹ - A | N : lễ Y QUOC ee eat yee. lA if FINA’ POLICY J SUPERVISION: Few È AEA CHDXHOLOCTC TẾ PV Power DACHKAIWIET NANA | ‡ | KIEMTOAN cuối tháng Số 15 - Tháng 9/2013 ag CSUPERVISION: POLK mi MUC LUC TRO CHUYEN CUG! THANG Trịnh Tiến Dũng Gập ghềnh con đường nâng cao hiệu quả 2 đầu tư trong giáo dục đại học ở Việt Nam van ñẺ Hũm nu Đỉnh Hiền Khi nhà thầu không quen đòi bồithường 7 CHUYEN OE: TANG CUONG GIAM SAT nÉn TAI CHINH QUOC GIA Tran Kim Chung Đi tìm giải pháp hoàn thiện 11 hệ thống giám sát tài chính Việt Nam Hà Huy Tuấn Giải pháp nào cho vấn đề giám sát 13 an toàn vĩ mô thị trường tài chính tai Viet Nam? Hoang Hai Nâng cao hệ thống chỉ tiêu an toàn 15 và giám sát nợ công tại Việt Nam TONG BIEN TAP Đặng Quyết Tiến Mô hình giám sát mới đảm bảo 17 Nguyễn Thắng sự phát triển bền vững của tài chính PHO TONG BIEN TAP doanh nghiệp Đỗ Hồng Công Nguyễn Thị Mùi Giám sát thị trường tài chính — 20 Thực trạng và giải pháp TRỤ SỬ 68 Trần Thái Tông - Cầu Giấy - Hà Nội QUA KET QUA KIEM TOAN Email: kiemtoancuoithang@sav.vn ĐT: (04) 62820721 - Fax: (04) 62820708 Thùy Lê Các chương trình mục tiêu quốc gia — 23 TÀI KHUẢN Hiệu quả và những vấn đề đặt ra? Báo Kiểm toán 2601 0000 056239 NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam THAM KHAO KINH NGHIEM NUGC neoAl Chỉ nhánh Tây Hà Nội Đặng Thị Hoàng Liên Kinh nghiém kiém toan 27 BIẤY PHEP HOAT BONG BAO CHi IN dựa trên đánh giá rủi ro Số 806/GP-BTTTT ngay 14/5/2012 của Ủy ban Kiểm toán Philippine của Bộ Thông tin và Truyền thông VAN HOA - VAN NGHE Pat.) Công ty CP In KHCN mới Trang tho 34 Xuân Hồng Vằng trăng đi qua ngõ.000đ Trọng Bảo Một thời chưa xa 38 [HANG ` a gj con ùn nang cao hieu qua dau tu trong giao duc dai hoc o Viét Nam Giáo dục đại học (GDĐH) có vai trò trọng yếu trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển của đất nước. Chính vì vậy, Việt Nam đã dành cho lĩnh vực này một tỷ lệ lớn trong tổng nguồn lực công.
Để tìm hiểu tình hình thực hiện các chủ trương, chính sách; đặc biệt là hiệu quả bố trí ngân sách, sử dụng ngân sách và tác động của khoản chi tiêu khổng lồ này, phóng viên Đặc san Kiểm toán cuối tháng đã có cuộc trò chuyện với TS.Trịnh Tiến Dũng, người chủ trì công trình nghiên cứu “Tác động chính sách của chỉ tiêu ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học ở Việt Nam”. Đây là công trình nghiên cứu sơ bộ và được thực hiện trong khuôn khổ của Dự án do Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội chủ trì với sự tài trợ của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam. ' KIẾMTOÁN cuối tháng Số 15 - Tháng 9/2013 Hl.| TRO CHUYEN CUO! THANG Là người chủ trì nhóm Tuy nhiên, bức tranh về tỷ Nhin chung, chu truong, nghiên cứu Chuyên đề, ông trọng đóng góp của nền giáo dục chinh sach cua Dang va Nha đánh giá như thế nào về vai trò Việt Nam trong HDI Việt Nam nước về phát triển giáo dục và của NSNN dải với giáo dục đại hiện còn khá mờ nhạt, chưa đạo tạo ở nước ta là đúng đắn, rõ học ở nước ta hiện nay? được sáng như kỳ vọng của ràng và nhất quán, mặc dù có lúc Bài học quan trọng đối với người dân ở một quốc gia có chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu mọi quốc gia là đầu tư cho sự truyền thống lâu đời về tôn sư của tình hình mới. Cụ thể: Việt phát triển của con người là con trọng đạo, luôn coi trọng sự dạy Nam coi giáo dục là quốc sách đường hiệu quả nhất và ngắn và học để làm người và để phát hàng đầu, coi việc phát triển nhất để đạt được tăng trưởng và triển.
Cụ thể, không phải giáo nguồn nhân lực chất lượng cao phát triển bền vững. Trong đó, dục mà chỉ số thu nhập (nhờ sự (bậc đại học) là một trong ba đột giáo dục đào tạo nói chung và tăng trưởng kinh tế) mới là yêu phá chiến lược trong sự phát GDĐH nói riêng có tam quan tố đóng góp lớn nhất cho HDI triển kinh tế-xã hội của nước ta trọng đặc biệt trong việc đào tạo Việt Nam năm 2011. Năm 2004, Quốc nguồn nhân lực có trình độ và Ngân sách là công cụ chính hội đã quyết định dành 20% tổng chất lượng cao để đương đầu với sách có vai trò “đòn bầy” quan chi tiêu công hàng năm cho giáo cuộc cạnh tranh ngày càng gay trọng bậc nhất của mỗi quốc gia dục và đảo tạo. Như vậy, đường gắt về năng suất và hiệu quả trên để thực hiện các mục tiêu phát lối, chủ trương thì đã rõ.
Vẫn đề thế giới. Mức độ đóng góp của triển đất nước. Chính vì vậy, còn lại chỉ là thực hiện sao cho giáo dục và đảo tạo trong Chỉ số phân tích tác động chính sách có hiệu quả. phát triển con người (HDI) cũng cua chi trêu NSNN cho giáo dục Qua kết quả thu được từ là một hàn thử biểu quan trọng, GDĐH có ý nghĩa lớn và có thé Công trình nghiên cứu, ông có do đó nó ngày cảng được quan giúp đưa ra một số gợi ý chính thể đưa ra một vài con số về tâm nghiên cứu sâu sắc hơn.
sách bồ ích. tình hình chỉ NSNN cho giáo kiemtoancuoithang@sav.vn 4 TRO CHUYEN CUO! THANG dục và GDDH tại Việt Nam té), chiém trén 0,52% GDP va vẫn còn được sử dụng trong một trong những năm gan day? khoang 10,5% tong chi tiéu số tài liệu. Sự khác biệt này chủ Trong một thời gian khá dài NSNN hang nam cho toan nganh yếu là do sử dụng số liệu cũ của (1998-2009), mặc dù còn thâm giáo duc. Trong những năm gần UNESCO Gsố liệu năm 2006).
hụt ngân sách nhà nước lớn và đây, chi tiêu NSNN trung bình Với một tỷ lệ chỉ tiêu như kéo đải nhiều năm, Nhà nước cho một sinh viên tốt nghiệp đại vậy, nhưng dường như liệu vẫn dành cho ngành giáo dục học giai đoạn 2005-2008 1a 25,5 quả đầu tư cho giáo dục đại học một lượng ngân sách ngày càng triệu đồng. ở nước ta vẫn chưa tương xứng với nguôn lực bỏ ra? Đúng vậy, theo sự đánh giá rất sơ bộ của chúng tôi, hiệu quả bố trí và sử dụng NSNN cho giáo dục ở nước ta thuộc loại thấp nhất trong khu vực và trên thế giới, việc khai thác nguồn lực đầu tư chưa có hiệu quả. GDĐH cũng không phải là ngoại lệ. So sánh quan hệ giữa chi tiêu công cho giáo dục và số năm đi học của Việt Nam với một số quốc gia ở châu Á, thì trong khi Việt Nam đầu tư cho giáo dục cao hơn so với Hàn Quốc (tính theo % tổng chỉ tiêu của Chính phủ) là 5% thì ở đầu ra lại thu được kết quả thấp hơn tới 6,2 năm.
Ngay cả Indonesia và Trung Quốc có mức đầu tư gần như nhau (18,7 và 18,2%) thì cũng thu được kết quả ở đầu ra cao hơn Việt Nam từ 1 đến 2 tăng, trung bình là 40.257 ty Xét về trị số tuyệt đối, số tiền nam di hoc. Tính ra, này còn thấp xa so với nhu cầu So sánh giữa một số chỉ số Ở chi tiêu công cho giáo dục nhưng so sánh với quốc tế, nó đầu vào — và đầu ra qua các chỉ chiếm khoảng trên 5% GDP và chiếm tỷ lệ chi tiêu công thuộc số phát triển GDĐH tiêu biểu trên 17,2% tông chi tiêu công vào loại cao nhất khu vực và trên cho thấy, việc đầu tư vào cơ sở hàng năm của cá nước. Nếu tính thế giới. Theo tỷ lệ % chi tiêu giáo dục và vào giáo viên đại cả các nguồn tài chính công công cho giáo dục trên GDP học cho hiệu quả không cao.
khác như: trái phiếu chính phủ, hàng năm, Việt Nam vượt qua rất Tính trung bình từ 2005-2010, công trái giáo dục, xổ số kiến nhiều nước châu Á, ké ca Thai số trường đại học tăng thiết (từ năm 2003) thì số đầu tư Lan và Hàn Quốc là hai nước 9,34%/năm, số giáo viên tăng trung bình nói trên lên đến cũng có tỷ lệ đầu tư cho giáo dục 7,42% nhưng số tuyển sinh đại 43.391 tỷ đồng và chiếm tỷ lệ cao. Tính theo sức mua tương học chỉ tăng 6,56%/năm; đặc 17,7% tổng chỉ tiêu công hàng đương (USD PPP) thì Việt Nam biệt số sinh viên tốt nghiệp khu năm của cả nước. xấp xỉ ngang Thái Lan và gấp vực công lập chỉ tăng Riêng đối với GDĐH, tổng gần 3 lần Indonesia chứ không 2,9%/năm. Như vậy, sự “bùng chi tiêu NSNN trung bình hàng phải thua xa các nước như nhận nổ” của các cơ sở GDĐH thời năm là 4.212 tỷ đồng (giá thực định trước đây và như hiện nay gian gần đây không dễ lý giải từ |_ KIEMTOAN e.
cudi thang Số 15 - Tháng 9/2013 Hl.| TRÒ CHUYỆN CUÓI THÁNG | góc độ nhu cầu của nền kinh tế Ông vừa nói đến tý lệ chưa tr.d/ngudi/thang néu quy déi vé và khả năng tăng số giáo viên, hợp lý trong cơ cấu chỉ thường giá 2001) chứ không phải đợi Thực trạng tìm việc làm và xuyên và chỉ xây dựng cơ bản. đến năm 2014 mới dat 7,1 tr.d/ làm việc đúng chuyên ngành Vậy như thế nào là một tý lệ người/tháng như Bộ Giáo dục & được đảo tạo của sinh viên ra hợp lý trong điều kiện nước ta, Đào tạo dự kiến. Nói cách khác, trường cũng khăng định điều đó. thưa ông? tiền ngân sách thực chi cho Theo một nguồn tài liệu, 75% Ở các nước phát triển, tính lương không quá thấp nhưng sinh viên ra trường khó tìm việc; bình quân, tỷ trọng chi lương và giáo viên thực nhận lại rất thấp, 20% sinh viên chọn sai ngành chi XDCB ở cấp đại học rất thấp, chỉ được khoảng một phần hai học, ra trường đi làm mới thấy chỉ chiếm tương ứng 47,5% và đến một phần ba.
Vậy sự chênh công việc không phù hợp nên bỏ xấp xỉ 12%. Nhờ đó, họ dành ra lệch đó do đâu và đi về đâu? Đây việc hoặc làm trái nghề. 30% nhiều nguon luc hon dé chi cho là vấn đề hệ trọng cần được muốn tìm việc làm khác vì các khoản ngoài lương như: sách nghiên cứu thấu đáo để có câu không phù hợp với khả năng, giáo khoa, học cụ, trang thiết bị trả lời thuyết phục. nguyện vọng và 40% chưa xác học tập, v.