MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Các doanh nghiệp (DN) Việt Nam nói chung và các CTXM (CTXM) Việt Nam nói riêng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội, các CTXM Việt Nam đã phát triển nhanh chóng cả về qui mô và số lượng. Song song với sự phát triển nhanh chóng của các CTXM, nhà quản lý DN phải giải quyết những vấn đề như: hiệu quả sản xuất kinh doanh; hiệu quả sử dụng các nguồn lực; độ tin cậy của thông tin tài chính; khả năng cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng; hiệu quả, hiệu năng trong lựa chọn và thực hiện chiến lược, hay đảm bảo cho việc tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế trong quá trình hoạt động của DN.
Trước những thách thức mới, nhà quản lý đang tìm kiếm những phương sách quản lý nhằm quản trị hiệu quả các hoạt động trong DN. Kiểm toán nội bộ (KTNB) xuất hiện mang tính khách quan nhằm đáp ứng nhu cầu quản trị của nhà quản lý trong môi trường kinh doanh có nhiều biến động. Nhà quản lý sử dụng KTNB như là một phương sách quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu kiểm tra, đánh giá từ đó đưa ra nhiệm vụ đảm bảo và tư vấn các mặt hoạt động, tuân thủ, báo cáo giúp hỗ trợ và đóng góp giá trị cho DN. Về mặt lý luận, trong một đơn vị, một tổ chức hay một DN, KTNB là một chức năng đánh giá độc lập đối với những hoạt động khác nhau của DN như là một sự trợ giúp đối với tổ chức.
Sự trợ giúp của KTNB được thể hiện thông qua việc thực hiện chức năng đảm bảo và tư vấn với mọi hoạt động trong DN. Cụ thể, với chức năng đảm bảo, KTNB tiến hành kiểm tra, xác nhận từ đó đưa ra sự đảm bảo về tính đầy đủ phù hợp và hiệu quả của các quy trình, bộ phận trong DN, trong đó bao gồm kiểm soát nội bộ (KSNB), quản trị rủi ro (QTRR) và quản trị doanh nghiệp (QTDN) và các chức năng quan trọng khác. Từ đó, giúp nhà quản trị nhận biết được việc tổ chức vận hành các chức năng, nhiệm vụ, bộ phận trong DN đã mang lại hiệu quả hay chưa. Ngược lại, khi hiệu quả tổ chức vận hành chưa cao, KTNB sẽ tiếp tục phát huy chức năng tư vấn.
Thông qua tư vấn, đào tạo, truyền đạt KTNB sẽ cung cấp những ý kiến quý giá cho việc xây dựng và hoàn thiện các quy trình, hoạt động trong DN. Với việc phát huy vai trò trợ giúp đó, KTNB trên thế giới đã có những bước phát triển mạnh mẽ và trở thành hoạt động mang tính chuyên nghiệp. Tại các quốc gia phát triển, KTNB được tổ chức trong hầu hết các DN có qui mô lớn với nhiều mô hình đa dạng. Hoạt động hiệu quả của bộ phận này đã trợ giúp đắc lực cho nhà quản lý không những đảm bảo độ tin cậy của thông tin kinh tế tài chính mà còn đảm bảo tính tuân thủ pháp luật, quy định, luan an 2 nội quy quy chế cũng như nâng cao tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu năng trong các hoạt động chức năng khác nhau của doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn, trong khu vực DN tại Việt nam đã có một số DN niêm yết, DNNN quan tâm tổ chức bộ phận KTNB hướng theo thông lệ quốc tế. Tuy nhiên phần lớn các DN Việt nam chưa tổ chức KTNB. Theo báo cáo thẻ điểm quản trị ASEAN 2015 – 2016, trong 55 DN của Việt nam tham gia đánh giá chỉ có 40% DN có bộ phận KTNB độc lập (khoảng 22 công ty), 60% không có bộ phận KTNB (33 công ty). Đối với 52 CTXM Việt nam khảo sát, chỉ có 3,85% có bộ phận KTNB (2 công ty).
Tỷ lệ này cho thấy nhiều DN nói chung và CTXM Việt Nam nói riêng còn chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về vai trò, chức năng cũng như lợi ích của KTNB trong việc đáp ứng các mục tiêu về báo cáo, tuân thủ cũng như hiệu quả hoạt động của DN. Trong khi đó, KTNB đã có lịch sử phát triển lâu đời trên thế giới, ngày càng khẳng định vị thế quan trọng và hoạt động chuyên nghiệp của mình. Tại các quốc gia phát triển, KTNB được tổ chức trong hầu hết các DN có qui mô lớn với nhiều mô hình đa dạng. Điều này cho thấy, tổ chức KTNB trong các DN Việt nam nói chung và các CTXM Việt Nam nói riêng sẽ là xu hướng phát triển tất yếu.
Thêm vào đó, tổ chức KTNB trong một số loại hình DN bao gồm các CTXM Việt nam là một yêu cầu pháp lý bắt buộc. Trong những năm đầu thế kỷ 21, hàng loạt các văn bản pháp luật ra đời như: Luật kiểm toán độc lập năm 2011, Luật tổ chức tín dụng 2010; thông tư 44/2011/TT-NHNN, Thông tư số 210/2012/ TT-BTC, Nghị định số 73/2016/NĐ-CP, thông tư 50/2017/TT-BTC, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Kế toán năm 2015 đã quy định về việc tổ chức và thực hiện KTNB trong một số loại hình DN cụ thể bao gồm DNNN, CTCP, tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm và các công ty chứng khoán. Cho đến năm 2016, Chính phủ ban hành dự thảo Nghị định về KTNB lấy ý kiến đóng góp của công chúng. Sau 3 năm lấy ý kiến, Nghị định về KTNB đã ra đời vào năm 2019.
Nghị định số 05/2019/NĐ - CP ngày 22/01/2019 quy định về đối tượng và tổ chức KTNB trong DN. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội xi măng Việt nam năm 2018, cả nước có 52 CTXM, trong đó có 43 CTXM là công ty cổ phần, chiếm gần 83%. Căn cứ theo theo Nghị định số 05/2019/NĐ-CP đã có 18 CTXM niêm yết, 2 Tổng công ty, Tập đoàn xi măng là đối tượng bắt buộc phải tổ chức KTNB, chiếm gần 45% các công ty cổ phần xi măng. Như vậy, tổ chức KTNB tại các CTXM Việt nam là một quy định pháp lý bắt buộc.
Những phân tích trên đây cho thấy tổ chức KTNB trong các công ty xi măng luan an 3 Việt Nam là một yêu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, nhằm tuân thủ yêu cầu pháp lý cũng như đáp ứng nhu cầu thực tiễn hoạt động của các công ty xi măng Việt nam. Việc nghiên cứu đề tài “Tổ chức kiểm toán nội bộ trong các công ty xi măng Việt Nam” mang tính cấp thiết, không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn góp phần hoàn thiện tổ chức KTNB trong các DN nói chung và các công ty xi măng Việt Nam nói riêng. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Nghiên cứu tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án có ý nghĩa rất quan trọng. Trong phần này, tác giả đi sâu nghiên cứu tổng quan những công trình nghiên cứu về KTNB và tổ chức KTNB trong nước và quốc tế để rút ra kết luận của các công trình nghiên cứu về tổ chức KTNB đồng thời chỉ ra khoảng trống nghiên cứu cho đề tài luận án của mình.
Cụ thể các công trình nghiên cứu được tác giả phân loại theo các nội dung về KTNB nói chung, tổ chức xây dựng quy chế và bộ máy KTNB, tổ chức xác định nội dung KTNB, tổ chức vận dụng phương pháp tiếp cận, phương pháp kỹ thuật KTNB và tổ chức quy trình KTNB, phân tích những kết quả đạt được, từ đó rút ra khoảng trống nghiên cứu cho đề tài luận án. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 2. Nghiên cứu về kiểm toán nội bộ nói chung Cho đến nay, KTNB đã có những bước phát triển mạnh mẽ và trở thành hoạt động mang tính chuyên nghiệp trên thế giới. Hoạt động của KTNB đã trợ giúp đắc lực cho lãnh đạo cấp cao, không những đảm bảo độ tin cậy của thông tin, đánh giá thực trạng tuân thủ mà còn đánh giá tính kinh tế, tính hiệu quả trong các hoạt động khác nhau trong đơn vị.
Có khá nhiều nghiên cứu của các tác giả trên những khía cạnh và lĩnh vực khác nhau của KTNB. Brink – giám đốc phụ trách nghiên cứu đầu tiên của Institution of Internal Auditors (IIA) và Lawrence B. Sawyer – chủ tịch Ủy ban nghiên cứu của Viện Kiểm toán nội bộ (IIA) là 2 tác giả tiên phong về KTNB trên thế giới. Tác phẩm Modern Internal Auditing ra đời những năm 1940 của Victor Brink được coi là việc đặt viên gạch đầu tiên đánh dấu sự ra đời của nghề KTNB chuyên nghiệp, trong đó, khái niệm KTNB đã được hiểu: “là hoạt động đánh giá độc lập trong một tổ chức về công tác kế toán, tài chính và các công tác khác của tổ chức đó.
Hoạt động KTNB được xem như là các dịch vụ mang tính bảo vệ và xây dựng hỗ trợ cho ban giám đốc” [71, tr24]. Nếu như các quan điểm trước đó cho luan an 4 rằng KTNB chủ yếu thực hiện kiểm tra kế toán và hỗ trợ cho kiểm toán viên độc lập thì trong tác phẩm này, Victor Brink đã nhấn mạnh vai trò quan trọng hơn rất nhiều của KTNB là hỗ trợ cho các nhà quản lý của đơn vị, tuy nhiên mới chỉ tập trung vào mảng tài chính kế toán. Sách chuyên khảo Brink’s Modern Internal Auditing tái bản lần thứ 6 của tác giả Moeller được xuất bản năm 2005 trong giai đoạn KTNB đối mặt với nhiều trọng trách mới, sau một số vụ scandal lớn mà tiêu biểu là sự phá sản của Enron và Arthur Andersen, theo sau đó là sự ra đời của Đạo luật Sarbanes – Oxley (SOA) tại Mỹ. Điểm mới trong tác phẩm này là Moeller [59] đã hướng dẫn cho KTNB thực hiện đánh giá đối với kiểm soát nội bộ theo yêu cầu của Điều 404 Đạo luật SOA.
Lần tái bản này cũng nhấn mạnh ý nghĩa của việc hiểu và đánh giá rủi ro đối với KTNB, mối quan hệ giữa KTNB và ủy ban kiểm toán. Trong tác phẩm này, tác giả thay đổi quan điểm phổ biến trước đó rằng KTNB chủ yếu thực hiện kiểm tra kế toán và hỗ trợ cho kiểm toán viên độc lập. Thay vào đó, ông cho rằng vai trò quan trọng rất lớn của KTNB là hỗ trợ cho các nhà quản lý của đơn vị. KTNB đã xuất hiện khá lâu trên thế giới nhưng tại Việt Nam, khái niệm KTNB còn khá mới mẻ, được nói đến trong khoảng 30 năm gần đây.