Luận án tiến sĩ hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

178
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.3. Đánh giá tổng quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề sẽ được luận án tiếp tục nghiên cứu

1.4. Giả thuyết khoa học, câu hỏi nghiên cứu và định hướng nghiên cứu của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ

2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

2.2. Nội dung và vai trò của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

2.3. Khái niệm, tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng mức độ hoàn thiện của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

2.4. Pháp luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ và những giá trị tham khảo cho Việt Nam hiện nay

3. CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM

3.1. Quá trình phát triển của pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở Việt Nam

3.2. Thực trạng pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT XUNG ĐỘT LỢI ÍCH TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG VỤ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở Việt Nam

4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ

MỞ ĐẦU

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Hoạt Động Công Vụ

Kiểm soát xung đột lợi ích (XĐLI) trong hoạt động công vụ là một vấn đề quan trọng trong quản lý nhà nước. Tại Việt Nam, việc này đã được quy định trong nhiều văn bản pháp luật nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Cần có cái nhìn tổng quan về tình hình hiện tại để hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong việc hoàn thiện pháp luật.

1.1. Khái Niệm Và Đặc Điểm Của Xung Đột Lợi Ích

Xung đột lợi ích được hiểu là sự mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và nghĩa vụ công vụ. Điều này có thể dẫn đến những quyết định không công bằng trong hoạt động công vụ.

1.2. Vai Trò Của Pháp Luật Trong Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các quy định nhằm ngăn chặn và xử lý các tình huống XĐLI, từ đó bảo vệ lợi ích công cộng.

II. Những Thách Thức Trong Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Ở Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều quy định pháp luật, nhưng việc kiểm soát XĐLI vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các quy định hiện hành còn thiếu tính đồng bộ và cụ thể, dẫn đến khó khăn trong việc thực thi.

2.1. Thiếu Minh Bạch Trong Hoạt Động Công Vụ

Minh bạch là yếu tố quan trọng trong kiểm soát XĐLI. Tuy nhiên, nhiều hoạt động công vụ vẫn thiếu thông tin công khai, gây khó khăn cho việc giám sát.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Thực Thi Quy Định Pháp Luật

Nhiều quy định pháp luật về kiểm soát XĐLI chưa được thực thi hiệu quả do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát XĐLI, cần có những giải pháp pháp lý cụ thể. Việc hoàn thiện khung pháp lý sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động công vụ.

3.1. Cải Cách Hệ Thống Pháp Luật

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo tính đồng bộ và khả thi trong việc kiểm soát XĐLI.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo Và Nâng Cao Nhận Thức

Đào tạo cán bộ công chức về các quy định pháp luật liên quan đến XĐLI sẽ giúp nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong công việc.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích

Việc áp dụng các quy định về kiểm soát XĐLI trong thực tiễn sẽ giúp giảm thiểu tham nhũng và nâng cao hiệu quả hoạt động công vụ. Các nghiên cứu cho thấy, những nơi có quy định rõ ràng về XĐLI thường có tỷ lệ tham nhũng thấp hơn.

4.1. Kinh Nghiệm Từ Các Quốc Gia Khác

Nhiều quốc gia đã thành công trong việc kiểm soát XĐLI thông qua các quy định pháp luật chặt chẽ và minh bạch.

4.2. Đánh Giá Hiệu Quả Thực Tiễn

Cần có các nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các quy định hiện hành để từ đó có những điều chỉnh phù hợp.

V. Kết Luận Về Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích Trong Hoạt Động Công Vụ

Kiểm soát XĐLI là một vấn đề cấp thiết trong hoạt động công vụ ở Việt Nam. Việc hoàn thiện pháp luật về kiểm soát XĐLI không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần xây dựng một nền hành chính minh bạch và liêm chính.

5.1. Tương Lai Của Kiểm Soát Xung Đột Lợi Ích

Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật để đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong bối cảnh hiện nay.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Cải Cách

Đề xuất các chính sách cải cách nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Kết quả khảo sát của tác giả luận án cho thấy, những công trình khoa học của các tác giả trong nước nghiên cứu pháp luật về kiểm soát XĐLI được công bố thời gian qua gồm một (01) sách chuyên khảo; một (01) đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ; một (01) đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở và một số bài viết khoa học đăng trên các tạp chí khoa học. Ngoài ra, còn có một số sách chuyên khảo, luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu về PCTN, hoạt động công vụ nói chung. Trong thực tế chưa có luận văn, luận án nào nghiên cứu trực tiếp về đề tài hoàn thiện pháp luật kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ ở Việt Nam.

Có thể phân chia các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án theo các nhóm nội dung như sau: 1. Nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động công vụ - Về khái niệm hoạt động công vụ: Hiện tại khái niệm này đã được đề cập trong một số giáo trình và sách chuyên khảo ở Việt Nam, tiêu biểu như sau: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam định nghĩa: "Công vụ được hiểu là hoạt động của mọi người "làm việc công" nghĩa là hoạt động của mọi CB, CC, VC làm việc trong mọi tổ chức cấu thành của hệ thống chính trị nước ta, phục vụ các công việc chung của xã hội" [124, tr. Trong cuốn sách Một số thuật ngữ hành chính [122] thì công vụ là một dạng của lao động xã hội chủ yếu do các CC, VC nhà nước thực hiện. Hoạt động công vụ được điều chỉnh bởi ý chí nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và gắn bới quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Trong cuốn sách Phòng, chống tham nhũng trong hoạt động công vụ ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn [96], tác giả Nguyễn Quốc Sửu cho rằng hoạt động công vụ nhà nước là những hoạt động hay một mặt hoạt động có tính tổ chức, quyền lực pháp lý của Nhà nước, được phân biệt với các hoạt động khác trong xã hội như sản xuất vật chất, sáng tạo giá trị tinh thần và hoạt động phục vụ trong các tổ chức chính trị - xã hội bởi sự gắn bó chặt chẽ của công vụ nhà nước với quyền lực nhà nước. Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu nêu trên chưa thể hiện sự thống nhất trong quan niệm về tất cả các khía cạnh của công vụ, hoạt động công vụ, mặc dù đã có sự đồng thuận trong các vấn đề như: chủ thể thực hiện hoạt động công vụ (là công chức nhà nước, hoặc rộng hơn bao gồm cả viên chức nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ. khi được nhà nước ủy quyền); mục đích, tính chất của hoạt động công vụ (nhằm thực hiện các chính sách của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt của đời sống xã hội; mang tính quyền lực nhà nước). - Về khái niệm XĐLI: Khái niệm này cũng đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam, tiêu biểu như sau: Trong bài viết ''Quản trị XĐLI - Các lý thuyết và vấn đề đặt ra ở Việt Nam hiện nay'' của tác giả Hoàng Văn Luân [58] thì XĐLI được hiểu là sự vi phạm, xâm phạm hoặc làm tổn hại lẫn nhau giữa các lợi ích trong một quan hệ nhất định.

Trong bài viết ''Một số vấn đề về XĐLI trong thực thi công vụ'', tác giả Hà Thanh [98] cho rằng: Xung đột lợi ích là những tình huống cụ thể phát sinh khi công chức có thể đưa ra quyết định hoặc thực hiện hành vi có lợi cho mình trong hoạt động công vụ, qua đó làm phát sinh tham nhũng. Trong bài viết ''Kiểm soát XĐLI trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị góp phần phòng, ngừa tham nhũng'', tác giả Ngô Mạnh Hùng [49, tr.82-86] nhận định, với việc pháp luật về PCTN của Việt Nam mới chỉ quy định hành vi tham nhũng trong khu vực công, liên quan đến người có chức vụ quyền hạn thì XĐLI có ý nghĩa "là tình huống trong đó CB, CC, VC có thể hưởng lợi cá nhân từ một quyết định đưa ra trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình". LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Trong bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'', tác giả Trần Văn Long [60, tr.34-37] cho rằng, xung đột lợi ích được hiểu là bất kỳ một tình huống nào trong đó cá nhân hay tổ chức được ủy thác trách nhiệm (được trao quyền) có những lợi ích riêng hay chung đủ lớn đề ảnh hưởng (hay có thể ảnh hưởng) đến việc thi hành các trách nhiệm được ủy thác một cách khách quan, đúng đắn. Theo các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền trong bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế giới'' [37, tr.27] thì "Xung đột lợi ích là khả năng một cá nhân hoặc tổ chức được giao quyền lực công sử dụng vị trí công tác một cách không thích đáng để tư lợi".

Như vậy, có thể thấy các công trình nghiên cứu nêu trên chưa có sự thống nhất hoàn toàn về cách hiểu XĐLI, đặc biệt là về chủ thể và khách thể của XĐLI. Phần lớn các tác giả nêu trên cho rằng XĐLI là "tình huống" chứ không phải là "hành vi". Bên cạnh đó, có tác giả cho rằng chủ thể của tình huống XĐLI là cá nhân (CB, CC, VC) được giao quyền lực (thẩm quyền) trong khi thực hiện công vụ [49, tr.82-86], nhưng có tác giả lại cho rằng ngoài cá nhân, chủ thể của XĐLI còn là tổ chức được giao quyền [37, tr. Dù vậy, các công trình nghiên cứu có sự thống nhất khá cao trong quan niệm về khách thể, theo đó lợi ích có thể là lợi ích vật chất (tiền, tài sản.) hoặc phi vật chất (trao đổi mối quan hệ, sự hàm ơn, khả năng thăng tiến trong công việc.

Lợi ích này là lợi ích riêng đối với cá nhân [49; 50; 60; 70] hoặc lợi ích chung (đối với tổ chức) [60, tr. - Về các yếu tố cấu thành XĐLI: Vấn đề này mới chỉ được đề cập trong hai (02) công trình nghiên cứu ở Việt Nam, cụ thể như sau: Bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế giới'' của các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền [37, tr.27] cho rằng có hai yếu tố tạo nên tình huống XĐLI, trong đó về chủ thể là tổ chức hoặc cá nhân được giao thẩm quyền nhất định, còn về khách thể, lợi ích bao gồm cả vật chất và phi vật chất. Bài viết ''Xung đột lợi ích và tham nhũng'' của tác giả Trần Văn Long [60, tr.34-37] khẳng định có ba yếu tố cấu thành XĐLI, mà ngoài hai yếu tố LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 đã nêu trên còn có yếu tố nữa là việc thi hành trách nhiệm được giao. Trong ba yếu tố đó quan trọng nhất là yếu tố về tính lợi ích của chủ thể.

- Về phân loại XĐLI: Vấn đề này đã được đề cập trong ba (03) công trình nghiên cứu ở Việt Nam, cụ thể như sau: Đề tài khoa học cấp bộ Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại Việt Nam. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn do Phạm Thị Huệ làm chủ nhiệm [45] cho rằng có 2 loại XĐLI chủ yếu đó là XĐLI thực tế và XĐLI tiềm tàng/tiềm ẩn. Trong cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công. Quy định và thực tiễn ở Việt Nam, do Ngân hàng Thế giới và Thanh tra Chính phủ ban hành [70], nhóm tác giả cho rằng XĐLI có thể chia thành hai loại (hai cấp độ) là XĐLI tiềm tàng và XĐLI hiện hữu, trong đó XĐLI tiềm tàng là CB, CC, VC ở tình huống có thể bị tác động bởi lợi ích riêng tư của mình khi thực thi công vụ, còn XĐLI hiện hữu khi CB, CC, VC ở tình huống bị tác động bởi lợi ích riêng tư của họ khi thực thi công vụ.

Trong bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế giới'' [37, tr.28], các tác giả Vũ Công Giao và Đỗ Thu Huyền trích dẫn quan điểm của Ủy ban độc lập chống tham nhũng của Hồng Công (ICAC) cho rằng có thể phân chia XĐLI thành 3 loại: (i) Xung đột thực tế (actual/real conflict): (ii) Xung đột hiển nhiên (rõ ràng) (apparent conflict) (iii) Xung đột tiềm ẩn (potential conflict). - Về mối quan hệ giữa XĐLI và tham nhũng: Hiện đã có một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam đề cập đến mối quan hệ giữa XĐLI và tham nhũng và nhìn chung quan điểm của các tác giả có sự thống nhất cao khi cho rằng XĐLI và tham nhũng là hai khái niệm khác nhau nhưng có liên quan mật thiết với nhau, cụ thể như sau: Trong đề tài Kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ tại Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [45], nhóm tác giả đã chỉ ra những điểm chung và khác biệt giữa XĐLI và tham nhũng. Cụ thể, cả hai khái niệm XĐLI và tham nhũng đều đề cập đến lợi ích riêng tư của CB, CC, VC, nhưng tham nhũng có mục tiêu rõ ràng là vụ lợi còn XĐLI chưa nói đến mục tiêu vụ lợi mà mới nói LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 tới sự xung đột giữa lợi ích công và lợi ích tư trong quá trình ra quyết định của CB, CC, VC. Trong cuốn sách Kiểm soát XĐLI trong khu vực công.

Quy định và thực tiễn ở Việt Nam [70] các tác giả cũng phân biệt giữa XĐLI và tham nhũng thông qua một số yếu tố như: Về đối tượng điều chỉnh, tham nhũng nói tới các "hành vi", trong khi XĐLI nói tới các "tình huống"; Các tình huống XĐLI có thể dẫn đến hành vi tham nhũng trong trường hợp CB, CC, VC ra quyết định vì lợi ích riêng và làm tổn hại tới lợi ích chung, trong trường hợp ngược lại, CB, CC, VC ra quyết định vì lợi ích chung thì XĐLI không dẫn tới tham nhũng; Về mặt lý thuyết, tham nhũng có thể bị loại bỏ hoặc giảm cơ bản, song các tình huống XĐLI thì luôn tồn tại và cần kiểm soát để tránh dẫn tới tham nhũng. Trong bài viết ''Kinh nghiệm quốc tế về phòng ngừa, quản lý XĐLI của thế giới'' [37, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ