Chương INghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ, làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài, theo đó: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)".1: Tiêu chí phân loại Doanh nghiệp Doanh Quy mô nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Tổng Số lao động Số lao động động nguồn vốn nguồn vốn I-Nông, lâm Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và 10 người 20 tỷ đồng người đến 200 tỷ đồng đến người đến thủy sản trở xuống trở xuống người 100 tỷ đồng 300 người II-Công Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 200 nghiệp và xây 10 người 20 tỷ đồng người đến 200 tỷ đồng đến người đến dựng trở xuống trở xuống người 100 tỷ đồng 300 người Từ trên 10 Từ trên 20 Từ trên 50 III-Thƣơng 10 người 10 tỷ đồng người đến 50 tỷ đồng đến người đến mại và dịch vụ trở xuống trở xuống người 50 tỷ đồng 100 người (Nguồn: Chính Phủ, 2009. Nghị định số 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hà Nội, tháng 06 năm 2009) Theo Nghị định trên, DNVVN phải đáp ứng các tiêu chí sau: - Về mặt pháp lý: phải là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Về quy mô: được phân thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn.
- Về vốn đăng ký và số lượng lao động trung bình hàng năm: phụ thuộc vào quy mô và loại hình doanh nghiệp (DN).2 Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Ngoài những đặc trưng vốn có của một DN hoạt động trong nền kinh tế, DNVVN còn có những đặc điểm riêng biệt xuất phát từ tính chất hoạt động như sau: - Thứ nhất, DNVVN có quy mô hoạt động sản xuất kinhdoanh và tiềm lực tài chính nhỏ. Với lượng vốn đầu tư giới hạn và số lượng lao động tối đa là 300 người thì quy mô của DN là tương đối nhỏ. Điều này mang lại một số lợi thế cho DNVVN như khả năng dễ thành lập, dễ gia nhập thị trường, khả năng thu hồi vốn nhanh. Những lợi thế này đã tạo điều kiện cho các DNVVN phát triển trong nhiều ngành nghề, 9 trên nhiều địa bàn, lấp vào các khoảng trống mà các DN lớn để lại.
Tuy nhiên, do quy mô vốn nhỏ nên DNVVN bị hạn chế trong khả năng tiến hành đầu tư vào mặt bằng, nhà xưởng, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất. Hơn nữa, quy mô nhỏ và vấn đề minh bạch thông tin hạn chế cũng khiến cho các DN gặp khó khăn trong việc tiếp cận với các nhà đầu tư để huy động vốn. Vì vậy, các DNVVN phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn phi chính thức, chiếm dụng từ đối tác và lợi nhuận giữ lại. Đối với các DN tiếp cận được nguồn vốn tín dụng NH, nguồn tài trợ này cũng không phải lúc nào cũng đáp ứng được nhu cầu của DN do những hạn chế về thủ tục vay vốn, phương án sản xuất kinh doanh chưa hoàn thiện, tài sản đảm bảo(TSĐB) chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn của NH… - Thứ hai, loại hình doanh nghiệp và ngành nghề, lĩnh vực kinh doanhphong phú.
DNVVN hoạt động dưới nhiều loại hình như hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, DN tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (CT TNHH), công ty cổ phần (CTCP)… trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Nhờ quy mô nhỏ, có khả năng tận dụng nguồn lao động và nguyên vật liệu tại địa phương, dễ dàng đáp ứng được những thay đổi trong nhu cầu của thị trường nên DNVVN phát triển nhanh chóng, là nhân tố đóng góp vào việc ổn định đời sống xã hội, thúc đẩy tăng trưởng phát triển kinh tế. Với việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường và việc thừa nhận các thành phần kinh tế cùng phát triển bình đẳng, Việt Nam đang trở thành môi trường đầu tư lý tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài. Ngày càng có nhiều công ty nước ngoài được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, với quy mô hết sức đa đạng.
Về số lượng,DNVVN hiện đang chiếm khoảng 30% trong số các DN có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm khoảng 65% trong số các hợp tác xã và liên hợp tác xã, khoảng 95% trong số các CT TNHH, và đặc biệt chiếm tỷ lệ 99% trong số các DN tư nhân, 65% trong số các DN Nhà nước. Điều đáng lưu ý là gần 100% DN đang hoạt động ở khu vực nông thôn là các DNVVN. 10 - Thứ ba, chiến lược sản xuất kinh doanh, trình độ khoa học kỹ thuật và nănglực cạnh tranh hạn chế. Nhiều DNVVN thiếu một chiến lược kinh doanh rõ ràng, phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu của DN; đa phần chỉ xây dựng các kế hoạch sản xuất kinh doanh mang tính tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu biến động của thị trường.
Do đó, DNVVNthường có xu hướng đi chệch ra khỏi sứ mệnh và mục tiêu đề ra ban đầu, thiếu sự điều chỉnh kịp thời và hợp lý. Trong thời đại khoa học kỹ thuật thay đổi nhanh chóng, đầu tư vào dây chuyền công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm chi phí trở thành điều kiện cốt lõi giúp cácDNđẩy mạnh năng lực cạnh tranh. Đối với DNVVN, do quy mô vốn bị hạn chế nên việc đầu tư nâng cấp, đổi mới các máy móc thiết bị, quy trình sản xuất không diễn ra thường xuyên, liên tục dẫn tới tình trạng lạc hậu về công nghệ, chi phí sản xuất cao, thiếu kinh nghiệm và trình độ trong việc nắm bắt thông tin thị trường cũng như marketing sản phẩm, dịch vụ. Hơn nữa, một trong những khó khăn mà hầu hết các DNVVN ở Việt Nam đều gặp phải đó là thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ, bảo lãnh tín dụng vay vốn.
Kèm theo đó là những vấn đề mà bản thân DN không thể tự giải quyết được như cơ sở hạ tầng và môi trường kinh doanh nói chung, cần có sự hỗ trợ, can thiệp kịp thời của Nhà nước thông qua các chủ trương, chính sách và các giải pháp cụ thể. - Thứ tư, hoạt động của DNVVN phụ thuộc vào biến động của môi trường xung quanh. Quy mô vốn thấp, hoạt động sản xuất kinh doanh mang nặng tính thời vụ, thiếu chiến lược kinh doanh dài hạn, nguồn cung vốn ít ỏi dẫn đến mức độ đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và tính ổn định của DNVVN tương đối thấp. Chính vì vậy, những thay đổi trong môi trường kinh tế vĩ mô và môi trường kinh doanh tại địa phương thường có những ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của DNVVN.
Tuy nhiên, DNVVN cũng có lợi thế với quy mô hoạt động của mình khi dễ dàng chuyển 11 hướng kinh doanh sản xuất, tăng giảm nhân công, thậm chí di chuyển địa điểm sản xuất dễ dàng hơn các DN lớn. - Thứ năm, bộ máy điều hành đơn giản, gọn nhẹ, có tính linh hoạt cao nhưng năng lựcquản trị còn hạn chế. Với số lượng lao động không nhiều, cơ cấu tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý trong các DNVVN tương đối nhỏ gọn, không có quá nhiều các bộ phận trung gian. Điều này làm tăng hiệu quả hoạt động của DN; các quyết định, các chỉ thị, thông báo.
đến với người lao động một cách nhanh chóng, giúp tiết kiệm chi phí quản lý. Áp dụng mô hình quản lý trực tiếp nên việc ra quyết định thường không gây mất thời gian và hết sức nhạy bén với những thay đổi trong môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, việc đưa ra các quyết định mà thiếu phân tích tình hình thị trường, thiếu đánh giá các nguồn lực tự có… thường dẫn tới rủi ro cho DN nếu quyết định đó không chuẩn xác. Đây là hạn chế xuất phát từ thực tế rằng: một số ít bộ phận lãnh đạo của các DNVVN không được đào tạo qua các trường lớp chính quy, thiếu những kiến thức cơ bản về tài chính, luật pháp, quản trị kinh doanh… 1.2 Tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Tín dụng có nguồn gốc từ tiếng La tinh – Creditum tức là sự tín dụng, tín nhiệm; hoặc nói khác đi là sử dụng sự tin tưởng, tín nhiệm đó để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian.
Tín dụng (Credit) là: Sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị tài sản từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu. Theo Khoản 1 Điều 3Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ký bởi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN)thì "cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi". 12 Như vậy, tín dụng NH là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ NH tới KH theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Cũng như các quan hệ tín dụng khác, phạm trù tín dụng NH có ba nội dung chính như sau: + Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang người sử dụng; + Sự chuyển nhượng này có thời hạn cụ thể; + Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.
Hoạt động tín dụng của NHTM dựa trên một số nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Theo Điều 6 Quyết định số 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc NHNNvề việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, quy định nguyên tắc vay vốn như sau: - Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong HĐTD và có hiệu quả kinh tế. Tín dụng cung ứng cho nền kinh tế phải hướng đến mục tiêu và yêu cầu chung về phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước.