Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu; 9 Chương 2: Lý luận chung về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp; Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam; Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp hoàn hiện kiếm soát nội bộ tại Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam. Ý nghĩa luận văn Luận văn không chỉ đóng góp về mặt lý luận mà còn có những đóng góp cả về mặt thực tiễn như sau: - Về mặt lý luận: Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về KSNB tại Doanh nghiệp - Về mặt thực tiễn: Đề tài đã phân tích thực trạng trong KSNB tại Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam; từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện KSNB tại Công ty, góp phần nâng cao tính hiệu quả hoạt động và phát triển bền vững cho công ty trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng. Trong quá trình thực hiện, do hạn chế bởi thời gian, tài liệu nghiên cứu và vốn kiến thức nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô giáo và người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn.
10 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Sau hàng loạt những vụ bê bối lớn xảy ra trên thế giới cũng như nhiều yếu tố bất ổn trong môi trường kinh doanh có tác động đến hoạt động của doanh nghiệp, các nhà quản trị chiến lược ngày nay quan tâm ngày càng nhiều hơn đến những vấn đề thể chế doanh nghiệp, quản lý rủi ro và kiểm soát nội bộ trong quá trình thiết kế và thực thi chiến lược cho doanh nghiệp của mình. Để một doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, bên cạnh xây dựng những chiến lược kinh doanh hoàn hảo thì một trong những nhân tố quan trọng để ngăn chặn rủi ro cho doanh nghiệp đó là KSNB vững mạnh. Ở chương 1, tác giả đã khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan của nhiều tác giả về KSNB doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam và các giáo trình, sách báo uy tín nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này. Trên cơ sở đó, xác định rõ ràng các mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cơ bản, cũng như nhấn mạnh những đóng góp về lý luận, thực tiễn của luận văn mà tác giả thực hiện “Kiểm soát nội bộ tại Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam”.
11 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP 2. Lý luận chung về kiểm soát nội bộ trong Doanh Nghiệp 2. Khái niệm, vai trò và hạn chế trong Kiểm soát nội bộ 2.Khái niệm Kiểm soát nội bộ Sự ra đời và phát triển của KSNB trải qua nhiều giai đoạn. Có thể chia thành hai giai đoạn như sau: - Thời kỳ tiền COSO (trước năm 1992): Trước khi Báo cáo COSO 1992 được công bố, khái niệm KSNB được sử dụng trong các tài liệu về kiểm toán từ đầu thế kỷ 20.
Lúc này nhận thức của nhà quản lý đối với KSNB chỉ dừng lại ở việc coi KSNB nhý một khía cạnh tài chính trong chuỗi quá trình kiểm soát của doanh nghiệp. Vào nãm 1949, lần đầu tiên khái niệm về KSNB được AICPA đưa ra, theo đó KSNB được định nghĩa nhý một kế hoạch và phương tiện (cách thức) phối hợp bên trong doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp bảo vệ tài sản, kiểm tra và đảm bảo độ tin cậy của dữ liệu, gia tãng tính hiệu quả và đạt được mục tiêu liên quan tới tính chính trị, pháp luật mà doanh nghiệp đã xác định từ trýớc. Định nghĩa này đã làm rõ và mở rộng các mục tiêu của KSNB trong các doanh nghiệp nhýng vẫn coi hoạt động KSNB chỉ nhý là công cụ (phương tiện, hoặc cách thức) để giúp nhà quản lý đạt mục tiêu. - Thời kỳ hậu COSO (thời kỳ hiện đại – từ năm 1992 đến nay): Theo báo cáo của COSO 1992 "Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất" ra đời đã định nghĩa "Kiểm soát nội bộ là quá trình do nhà quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị chi phối, được thiết lập để cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính; tuân thủ luật lệ và các quy định; đảm bảo hoạt động hiệu lực và hiệu quả".
(COSO 1992) Trong những năm đầu thập kỷ 21, từ sự sụp đổ của các tập đoàn lớn như Enrol, 12 Worldcom… đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã bộc lộ rõ một cơ chế quản trị doanh nghiệp lỏng lẻo với hoạt động KSNB yếu kém. Để giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu kiểm soát, hoạt động KSNB đã mở rộng sang lĩnh vực quản trị doanh nghiệp, bao gồm xây dựng và vận hành các chu trình hoạt động, thủ tục KSNB, quản trị rủi ro và báo cáo tài chính. Do vậy khái niệm KSNB đã thay đổi cùng với sự phát triển của khung quản trị doanh nghiệp. Theo đó trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị là thiết kế và vận hành ERM.
Khung KSNB đã thay đổi theo sự chuyển động của nền kinh tế thị trường mà ở đó ERM cung cấp một nền tảng quan trọng trong việc đánh giá hoạt động doanh nghiệp dựa vào rủi ro và quá trình quản lý rủi ro. Điều này thực sự có ý nghĩa trong bối cảnh môi trường hoạt động kinh doanh hiện nay đang thay đổi nhanh chóng, nguy cơ tiềm ẩn gian lận, sai sót luôn hiện hữu đe doạ sự ổn định và thịnh vượng của doanh nghiệp. Trong vòng hơn hai thập kỷ kể từ khi ra đời khuôn khổ cũ về KSNB (COSO 1992), môi trường kinh doanh và hoạt động đã thay đổi nhanh chóng không chỉ ở từng quốc gia mà còn lan toả sang các khu vực và toàn thế giới, xu hướng toàn cầu hoá các thị trường mở rộng, đồng thời các hoạt động trong doanh nghiệp ngày càng đa dạng và phức tạp hơn; những yêu cầu cao hơn về giám sát quản trị doanh nghiệp cũng được đặt ra; công nghệ thông tin thay đổi như vũ bão… đã tạo ra những dạng sai phạm mới phức tạp và tinh vi hơn. Điều này đã đòi hỏi khung KSNB tiếp tục phải được cập nhật để thích ứng với tình hình mới.
Trong bối cảnh đó, COSO 2013 (Khuôn khổ mới) đã ra đời tiếp tục kế thừa khái niệm về kiểm soát nội bộ như COSO 1992 nhưng nhấn mạnh sự mở rộng mục tiêu báo cáo bao gồm báo cáo tài chính và các loại báo cáo khác (báo cáo phi tài chính và báo cáo nội bộ). Cũng theo quan điểm đó, thì “Kiểm soát nội bộ bao gồm năm yếu tố: môi trường kiểm soát, quy trình đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông; và các hoạt động giám sát”. Cách hiểu này cũng đồng nhất với quy định trong chuẩn mực Kiểm toán quốc tế số 315 (ISA 315) "Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị". 13 Như vậy, có nhiều quan điểm và các cách tiếp cận khác nhau về KSNB.
Điểm chung giữa các quan điểm chính là coi KSNB là một bộ phận thuộc hệ thống quản lý doanh nghiệp được vận hành bởi con người, hoạt động theo một trình tự (quá trình) nhất định nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp lý về việc các mục tiêu quản trị, điều hành doanh nghiệp sẽ được thực hiện. Nghiên cứu khái niệm KSNB xuất phát từ vai trò của KSNB đối với các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (như kiểm toán nhà nước, cơ quan thanh tra tài chính…), có thể định nghĩa KSNB theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 – Xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị “Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan.” Từ đó Chuẩn mực này đã đồng nhất khái niệm hệ thống KSNB và KSNB. Từ các lập luận trên, rút ra được kết luận về KSNB là một quá trình. Thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát các hoạt động của đơn vị sẽ được thực hiện.
Để đạt được mục tiêu mong muốn đơn vị cần phải kiểm soát hoạt động của mình, KSNB chính là quá trình này. Và đồng thời, KSNB không phải là một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, gắn chặt vào hoạt động tổ chức và là một nội dung cơ bản trong các hoạt động của tổ chức. KSNB không phải là một chức năng bổ sung cho các hoạt động của tổ chức mà nó là một bộ phận không tách rời với hoạt động tổ chức. Nhìn chung, định nghĩa KSNB theo COSO hay theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam về cơ bản đều đồng nhất với nhau: - Nhấn mạnh việc KSNB là một quy trình được thiết kế và thực hiện bởi con người trong tổ chức.
- Mục tiêu cơ bản của KSNB là đảm bảo khả năng đơn vị đạt được mục tiêu trong việc đảm bảo độ tin cậy của thông tin, đảm bảo hiệu quả và hiệu suất hoạt động cũng như đảm bảo tuân thủ pháp luật và quy định. Vai trò của kiểm soát nội bộ trong Doanh nghiệp KSNB là một chức năng thường xuyên của Quản lý. KSNB vững mạnh sẽ đem lại nhiều lợi ích và có vai trò to lớn trong sự phát triển bền vững của Doanh nghiệp, một số vai trò chủ yếu như: KSNB hiệu quả giúp bảo vệ tài sản doanh nghiệp Mỗi loại tài sản có giá trị và tính chất khác nhau, ảnh hưởng có nhất định khác nhau đến hoạt động kinh doanh doanh nghiệp mà có chế độ bảo vệ khác nhau. Chính vì vậy, KSNB không chỉ đề ra các biện pháp bảo vệ mà còn tiến hành thẩm tra chúng để tránh những tổn thất tác động từ môi trường bên trong và bên ngoài.
Ngoài ra còn phải xem xét tính hiệu lực, tính phù hợp của biện pháp đó thông qua việc kiểm kê, xác định số lượng, kiểm tra chi tiết hay mời chuyên gia để đánh giá được giá trị thực của tài sản, tránh tình trạng đánh tráo hay bị lợi dụng.